NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10 BHADDIYA CON TRAI CỦA NGÀI KĀḶIGODHĀ

[161] Trong Kinh Phật thứ mười:TạiAnupiyā (Anupiyāya): tại một thành phố có tên như vậy. Tại khu rừng xoài (Ambavane): có khu rừng xoài không xa thành phố đó là bao, thuộc quyền các vua Malla cai trị. Các vua Malla đă cho xây một thiền viện dành cho Đức Thế Tôn được gọi đơn giản với tên là “khu rừng xoài”. Chính trong khu rừng đó[1]Đức Thế Tôn đă lưu lại, biến ngôi làng Anupiyā (thành nơi cho Ngài) làm trú xứ; v́ lư do đó người ta nói rằng “Ngài đang lưu lại tại Anupiyā[2]trong khu rừng xoài”. Bhaddiya (Bhaddiyo) chính là tên vị Trưởng Lăo. Con trai của igodhā (Kāigodhāya[3] putto): người phụ nữ[4] ḍng Thích Ca, chính là hoàng hậu của nhà vua ḍng Thích ca[5] được biết đến[6] với tên gọi là igodhā, nàng cũng là một thánh đệ tử, một người đă am hiểu[7] nhiều giáo lư của Đức Phật. Đây lại chính là con trai của người này[8]vậy. Phương pháp xuất gia của ngài cũng giống như phương pháp được truyền lại trong tập Khandhaka[9].

Sau khi đă xuất gia, ngài đă thực hành thiền minh sát, không lâu sau đó ngài đă đạt được lục thần thông[10]; ngài cũng[11] đă tinh tấn tu luyện tam thập chi hạnh đầu đà[12]; và ngài đă trở thành một đồ đệ trong số tám mươi vị đại đệ tử, sau khi được nâng lên địa vị tối thượng do Đức Phật ban cho ngài trở thành thành viên trong gia đ́nh có địa vị [13] cao, tức là “Hỡi các vị Tỳ khưu, người này sẽ là tối thượng đồ đệ Tỳ khưu và có vị thế cao; có nghĩa là, Bhaddiya, con trai Kāigodhā. Đi tới địa điểm trống (suññāgāragato): ngoại trừ trong khu rừng và dưới gốc cây[14] đă được đề cập như sau[15] tức là “ngoại trừ ngôi làng và các phong cảnh thiên nhiên bao bọc ngôi làng đó, tất cả c̣n lại chỉ toàn là rừng”. (Vin iii 46) bất kỳ nơi cư trú nào khác được coi là thích hợp với người xuất gia, như là ngọn núi, hay căn hầm v.v… là điều ám chỉ đến trong trường hợp này. Bằng từ suññāgāra (một số địa điểm trống rỗng), do không có dân chúng sinh sống tại đó; hay nói cách khác, bất kỳ nơi nào xa vắng[16] thiếu tiếng động, v́ tiếng động là trở ngại đối với thiền định[17]cũng nên hiểu như là suññāgāra (một số vị trí trống trơn) đi vào nơi trống đó. Kiên tŕ (abhikkhaṇaṃ): liên tục[18]. Có thể khiến khởi sanh kinh Phật Tự Thuyết này (Udāna udānesi [19]): v́ vị Trưởng lăo, đang trong giai đoạn nghỉ ngơi trong ngày, hay khi ngài vào nơi ở tạm thời trong rừng, rất có thể, đa phần, ngài đă trải qua những giây phút trong hạnh phúc tột đỉnh do chứng đắc thiền quả và hạnh phúc thiền diệt, chính v́ thế do có niềm hạnh phúc đó ngài lo sợ ngay khi phải chứng kiến hạnh phúc của bà con ruột thịt của ḿnh, cùng với nỗi lo sợ và ḷng hăng say, do chính ngài đă cảm nghiệm được trước đó, thế nên đă phải thốt lên lời cảm thán do hỷ đem lại,[20] có nguồn gốc nơi trí đồng sanh[21] với trạng thái phỉ lạc, tức là “Ôi, sung sướng biết nhường nào! ôi hạnh phúc biết bao!”. Sau khi nghe vậy, điều đă xảy đến với ngài (sutvāna tesa etad ahosi) : vừa khi nghe kinh Phật Tự Thuyết này vị Trưởng lăo cũng đă phát khởi sanh Phật Tự Thuyết này, tức là “ôi sung sướng biết bao! ôi hạnh phúc biết nhường nào!” Điều phản khán này, tức là “không c̣n nghi ngờ ǵ nữa người này[22] đă chứng đắc Phạm hạnh, lại không thấy được sung sướng”, cũng như vậy điều này đă xảy ra đối với các vị Tỳ khưu[23] cũng như chúng sanh phàm tục, cứ tưởng rằng sự việc xảy ra như vậy không liên quan ǵ đến Phật Tự Thuyết, về hạnh phúc của vị Tỳ khưu đó là (hạnh phúc) viễn ly.[24] [162] v́ lư do đó có lời nói rằng: “Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa” v.v… về vấn đề này:

Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. (nissaṃsayaṃ): không phải hoài nghi[25] ǵ cả, ư nghĩa ở đây là chắc chắn. Một số người cho rằng: Kinh pāli chính là ya  so pubbe agāriyabhūto samāno (v́ trước kia khi ngài vẫn là người cư sĩ tại gia); và rồi b́nh luận ư nghĩa khẳng định rằng anubhavi (cảm nghiệm được) tạo thành các từ[26] c̣n lại, một số người khác giải thích là yanhưng ’sa pubbe agāriyabhūtassa chính là Kinh pāli. Về điểm này:

Chính v́…là của ngài: ’sa = yaṃ assa (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); nhờ có từ sandhi do đọc lướt các nguyên âm a sa trở thành evaṃ’sa te ( Trung Bộ Kinh (M) i 10[27]) và từ pupphaṃ ’sā uppajji [28] v.v…đây chính là ư nghĩa, chính v́ niềm hạnh phúc sung sướng của họ hàng thân thuộc cảm nghiệm được cũng chính là (hạnh phúc) của ngài vậy. Trước lúc Trưởng lăo Bhaddiya xuất gia, ngài cũng đă là người cư sĩ, ngài cũng đă sống trong một gia đ́nh.  Chính do gặt hái được điều này điều nọ (so tam anussaramāno), chính do thu lượm được (anussaranto, một h́nh thức ngữ pháp khác) niềm hạnh phúc sung sướng bất tận này giờ đây chính là kết quả của điều ngài đă chán chê rồi. Những vị Tỳ khưu đó đă nói điều này với Đức Thế Tôn (te bhikkhū Bhagavanta etad avocu): có rất nhiều các vị Tỳ khưu, chính bản chất của họ là tỏ ḷng thương xót[29], đă nói với Đức Phật điều này với ư định giúp ngài, chớ không t́m kiếm lỗi lầm. Một người nào đó (aññataraṃ): một vị Tỳ khưu không được xác định danh tánh và ḍng tộc (gotra). Được mời đến (āmantesi): được yêu cầu, nêu lên (chứng đắc của Bhaddiya) để cho các vị Tỳ khưu tập trung chú ư tới. Mong rằng được như vậy (evaṃ) chính v́ có liên quan đến việc chấp nhận lời khẳng định này,[30]ư nghĩa là được rồi[31]. Điều tiếp theo[32] evaṃ (chính là vậy) là cách để nhận biết ngài khẳng định rằng Phật Tự Thuyết chính là cách nói của ngài “chính là như vậy, điều đó giống hệt như vậy”, (trong đó những sự việc diễn ra) phù hợp với cách các vị Tỳ khưu đă nói (họ là như vậy), tức là ngài kiên tŕ[33] khởi sanh Udāna này: “ ôi! hạnh phúc biết bao! ôi sung sướng biết mấy”, Nhưng trong khi nhận ra điều đó…hỡi Bhaddiya, nhà ngươi có (kim pana tvaṃ Bhaddhiya): Tại sao Đức Thế Tôn lại hỏi? có phải điều xảy ra ngài không hiểu[34] ḷng ḿnh chăng? Đây không phải là (trường hợp) ngài không hay biết, hơn thế nữa đây lại chính là lư do ngài hỏi, khiến ngài nói [35]nhằm thu hút sự chú ư của các vị Tỳ khưu vào vấn đề đó. Chính v́ điều này v.v… có lời nói rằng: “các vị Như Lai, cho dù có biết rơ,(song các Ngài) vẫn đặt câu hỏi, cho dù có biết rơ (song các Ngài) vẫn không đặt câu hỏi”[36]. Gạt mối quan tâm sang một bên (atthavasaṃ): lư do. Những chỗ ở riêng tư (antepure): trong nội cung hoàng cung của vua dùng làm nơi hội họp[37] gần kề với khu dành riêng cho phụ nữ, tại đó nhà vua thực hiện những sinh hoạt như tắm, dùng bữa,và nghỉ ngơi v.v…lính canh được cắt cử rất kỹ và được chỉ định một cách thấu đáo (rakkhā susavihitā) : căn pḥng riêng biệt đó được sửa soạn rất công phu (suṭṭhu) và ở mọi phía (samantato) đều được chỉ định (vihitā)[38] bằng cách có người có phận sự điều phối lính canh (ārakkha)[39].Ở bên ngoài những căn pḥng riêng đó cũng đă chỉ định cẩn thận và xuyên suốt (bahi pi [40]antepure): ở nơi ṭa nhà hoàng cung, như chỗ dùng để làm nơi kiện tụng[41] v.v…, bên ngoài khu dành riêng đó. Được canh gác và cấm người lui tới như vậy (evaṃ rakkhito gopito santo): (samāno, là một h́nh thức ngữ pháp khác) tức là được canh pḥng, được cấm người lui tới như vậy, nhằm mục đích[42]thoát khỏi sợ hăi. Nhằm mục đích đi lại dễ dàng[43]theo thiển ư của tôi mà thôi. Nhờ có lính canh, che chắn và cấm người lui tới[44] được thực hiện rất kỹ càng và xuyên suốt, được bảo vệ bởi hàng trăm con người như vậy, cả bên trong lẫn bên ngoài ṭa nhà của vị vua. Ngai vàng và vô số các nơi khác trong vương quốc.[45] Từ bhīto [46](khiếp sợ) v.v… là từ đồng nghĩa với nhau. [163] Hay nói cách khác khủng khiếp (bhīto): khiếp sợ các vị vua khác. Lo âu (ubbiggo): lo lắng, xao xuyến, run rẩy. Sợ hăi và xao xuyến nổi lên là kết quả của việc náo loạn[47] trong vương quốc của ngài.[48] Nghi kỵ (ussaṅkī): người có đầu nghiêng lên trên (uddhamukhaṃ) [49] nghi ngờ (sakamāno) đủ thứ, bằng cách nghi ngờ dưới mọi t́nh huống. Do những lời tuyên bố, “một vị vua[50]đương nhiên trong mọi t́nh huống đều bị nghi ngờ, và kết quả do việc tôn trọng (parisakāya) liên quan đến những bổn phận và nhiệm vụ này nọ. Bị khiếp sợ (utrāsī): bị khiếp sợ bằng cách sợ hăi (tāsena), có khả năng khiến thân xác nổi (uppādana) rung lên[51], nổi lên (uppannena)[52] ngay cả trong suy nghĩ rằng “chắc phải có những lúc ta sẽ bị thiệt hại lớn không thể biết được vào lúc ngay cả từ phía những người đang sinh sống trước mặt ta[53]đây. Họ cũng giải thích là utrasto[54]. Cư ngụ tại: vihāsi = vihari (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) đă trở thành như vậy. Giờ đây: etarahi = idāni (từ đồng nghĩa); kể từ thời gian ngài xuất gia trở đi. Một ḿnh (eko): không có bạn bè; bằng cách này ngài ám chỉ việc viễn ly thân[55]. Ư nghĩa của các từ không sợ sệt (abhīto) v.v… nên được hiểu ngược lại những ǵ đă khẳng định ở trên. Thực chất việc ngài không sợ sệt v.v…[56]là do chỉ có một điều là ngài không có tài sản được gọi cho là tạo ra sợ sệt v.v…và về các phiền năo[57]cũng được qui cho là như vậy. Bằng cách này ngài ám chỉ t́nh trạng viễn ly tâm .Không quan tâm[58] (appossukko): thiếu quan tâm đến những nơi có người bảo vệ thân. Điềm tĩnh (pannalomo): người không có tóc dựng đứng lên do không ở t́nh trạng u mê làm nổi da gà. Hơn thế nữa, nhờ cặp từ này, ngài muốn ám chỉ sự tồn tại độc lập của ḿnh. Sống không nhờ vào của cải của tha nhân cung cấp cho. (paradattavutto [59]): sống nhờ vào (vattamāno) y cà sa v.v…do người khác[60] bố thí cho; bằng cách này ngài cho biết, bằng cách làm rơ không có triền phược này[61], ngài đă diệt trừ được nguyên nhân sợ hăi không dư sót[62].Với tấm ḷng rộng mở như ḷng con nai (migabhūtena cetasā): với tâm (cittena) đă trở nên giống như tấm ḷng con nai[63] , thực tế là ngài không nghi ngờ bất kỳ điều ǵ; v́ nai sống trong rừng sâu vượt hẳn những h́nh thức loài người[64] đi, đứng, ngồi và nằm xuống mà không chút nghi ngờ ǵ[65]và lại tiếp tục con đường của ḿnh tuỳ thích, di chuyển đó đây như không có ǵ cản trở cả[66]; ngài chỉ cho thấy chính ngài nữa cũng hành động như vậy.Về điểm này có lời Phật Độc Giác Paccekabuddha nói rằng:

“Giống như trong rừng sâu, con nai không mắc bẫy di chuyển đến bất kỳ nơi nào nó muốn,[67] để t́m kiếm đồng cỏ. Th́ người hiền trí[68] sau khi đă chú tâm đến tự do của ḿnh, cũng nên du hành một ḿnh giống như tê giác một sừng vậy.” (Sn 39)

Ôi Đức Thiện Thệ, chính việc nhận thức được mối bận tâm quan trọng hơn cả, ta đă (imaṃ[69] kho aham bhante atthavasaṃ): Ôi vị Thiện Thệ[70], chính v́ nhận thức rơ được lư do này, ôi đức Thiện Thệ, có nghĩa là: Niềm hạnh phúc viễn ly tuyệt đối này, niềm hạnh phúc thiền quả này, giờ đây đă thuộc về ta, thế nên ta đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này: “Ôi! sung sướng biết bao, Ôi! hạnh phúc biết nhường nào!”

Vấn đề này (etam atthaṃ): [164] thẩm định dưới mọi khía cạnh vấn đề này được là niềm hạnh phúc viễn ly của Vị Trưởng lăo Bhaddiya, đă vượt xa đối tượng người phàm tục[71]. Kinh Phật Tự Thuyết này (ima udāna): khiến khởi sanh[72], Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ vẻ oai nghiêm sự sợ hăi sầu muộn đă biến mất là như thế nào cùng với nguyên nhân khiến cho chúng nổi lên. Về vấn đề này có lời nói rằng:

Vị nào chẳng tồn tại bất kỳ mối sân hận nào trong tâm (’antarato na santi kopā): Bậc[73] thánh nhân (ariyapuggala) mà tham dục v.v…đó là những kích thích[74]nổi lên trong tâm v́ lư do trong tâm luôn vấn vương nhiều vết nhơ[75], cũng như vậy đối với những kích thích căm ghét và giận hờn gây ra biết bao nhiêu là chia rẽ, xuất phát từ những chia rẽ (xem ra hợp t́nh hợp lư)[76], ta không thể t́m thấy bất kỳ căn nguyên sân hận âm ỉ v.v…tồn tại nơi họ, bên trong họ, nơi chính thâm tâm của họ, thực tế là họ đă lấy thánh đạo[77] diệt trừ. V́[78] cho dù từ antara[79] này được coi như là nguyên nhân, như trong câu “ở đây ta và nhà ngươi có điều ǵ liên quan đâu (kim antaraṃ)?” (Ud 6;Trung Bộ Kinh (M) i 79) v.v…liên quan đến một khoảng cách như trong câu “Giữa (antara) khu rừng Jeta và thành phố Sāvatthi” (Ud 11[80]) v.v…; (và) liên quan đến tấm ḷng, như trong câu “nỗi sợ hăi phát sanh từ trong ḷng (antarato) mà ra”(Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 96; It 83) v.v…[81]. Tuy nhiên trong trường hợp này, đây chính là điều được coi như chỉ liên quan đến tâm mà thôi. V́ lư do đó có lời nói rằng: “nội bên trong,[82] bên trong tâm của ngài[83], và người nào đă trải qua biết bao nhiêu trạng thái hữu và phi hữu (iti bhavābhavatañ ca vītivatto): do bởi[84] bhava (hữu) có thể là một thành công, và abhava (phi hữu)[85] lại là một thất bại, cũng giống như vậy, gia tăng là hữu (bhava), giảm thiểu là phi hữu (abhava), hay nói cách khác, (v́) bhava có thể là thường kiến, c̣n abhava lại là đoạn kiến, hay hữu là công đức, phi hữu là bất thiện. Hay hữu là thiện thú. Abhava là ác thú, hoặc giả hữu là nhỏ nhoi, và phi hữu là to lớn[86], chính v́ thế do có ư nghĩa[87]iti (nhiều thứ), mà ta phải chấp nhận có rất nhiều khác biệt.[88] Qua hữu trong qui tŕnh tái sanh hữu[89]lại đựơc coi là thành công, thất bại, gia tăng, sút giảm, thường kiến, đoạn kiến, công đức hay bất thiện, thiện thú hay ác thú, nhỏ bé và to lớn được đề cập đến như là “trạng thái hữu hay phi hữu”, và vị nào đă tiến tới, đă vượt qua, nhiều hiện trạng hữu và phi hữu bằng cách này cách khác như là điều phù hợp[90], chỉ bằng tứ thánh[91] đạo mà thôi. Cách phân loại cần phải được thay đổi[92] cho hợp với mối bận tâm quan trọng hơn cả(vào lúc này). Vị nào, đă vượt qua sợ hăi (taṃ vigatabhayaṃ): vị nào, đă đoạn tận các lậu hoặc, được thành tựu[93] những ân đức  đề cập đến ở trên dưới dạng như vậy lại đă ra đi với ḷng kính sợ, thông qua việc ra đi đó, liên quan đến không c̣n sân hận trong tâm và liên quan đến t́nh trạng vượt thắng hoàn toàn[94] rất nhiều hiện trạng hữu và phi hữu, vượt qua được nguyên nhân sợ hăi, mà đến được niềm hạnh phúc viễn ly tột đỉnh và[95] hạnh phúc tột đỉnh, thánh quả[96] tột đỉnh, được giải thoát khỏi sầu khổ liên quan đến cùng một sự kiện là vị nào ra đi mà trong ḷng không sợ hăi sân hận. Các chư thiên cũng không cảm nghiệm được cảnh quan đó. Ngoại trừ những vị nào đă “đắc đạo”, toàn bộ những ai là chư thiên bằng cách hóa sanh[97] cho dù có phấn đấu, lại không cảm nghiệm được, không hoàn tất được, không có khả năng nhận ra[98]  tri kiến đó bằng cách nhận ra những việc làm tâm[99] ngoại trừ chỉ có chúng sanh mà thôi; v́ kể cả các bậc hữu học (sekhas)[100] lẫn các phàm nhân, đều không biết tường tận qui tŕnh tâm nơi các vị Alahan vậy.

Việc chú giải Kinh Phật thứ mười đến đây là kết thúc

Việc chú giải[101] Chương Mucalinda cũng kết thúc tại đây.

-ooOoo-


[1]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tattha; c̣n bản văn th́ bỏ qua.

[2]. Chú giải Ce Be giải thích là Anupiyāya (Se Anupīyāya) và Ud c̣n bản văn lại ghi là Anupiyaṃ.

[3]. Chú giải Se cũng như vậy, c̣n đối với bản văn Ce lại ghi là Kāligodhāya. Be ghi Kāīgodhāya;  Chú giải Udāna  

[4]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Sākiyānī c̣n bản văn ghi là Sākiyāna; Sākiyānī không thấy lịêt kê trong tự điển Childers hay PED nhưng tự điển BHSD sv ghi Sākiyānī

[5]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Sakyarājadevī c̣n bản văn lại ghi là Sakkarājadevī yā.

[6]. Nāma; điều này có thể hiểu đơn giản là “được đặt tên” chẳng phải đây là một thực tế AA i 192 đă vạch ra cho thấy là nàng có làn da màu đen xạm, trong khi đó Godhā là tên của nàng (kāivaṇṇā sā devī Godhā ti ’ assā nāma)

[7]. Āgataphalā viññātasāsanā ; chú giải AA iii 337- ariyaphala assa āgatan ti āgataphalo, sikkhāttayasāsana etena viññātan ti viññātasāsano. Xin cũng đọc chú giải Vin-a 632, trong đó h́nh như điều này lại ám chỉ vị Nhập Lưu, và SA iii 100 trong đó āgatāgamo viññātasāsano h́nh như lại ám chỉ  hoặc là vị Nhất Lai hay là vị Bất Lai trong chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 383tt dưới đây, chú giải Ce Be Se lại giải thích adhigataphalāya bản văn lại ghi là āgataphalāya; trong khi đó chỉ có ḿnh viññātadhamma, cũng xin đọc thêm Vv-a 192.

[8]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tassā c̣n bản văn ghi là tassa.

[9]. Chú giải Be giải thích là pabbajjāvidhi Khandhake c̣n bản văn chú giải Ce Se lại giải thích là Pabbajjāvidhikhandhake; Udāna (Be) coi những nguồn tư liệu đó là “Vin iv 399 (Be)”. Ud-a (Be) lại cho là “Vin iv 338 (Be)”

[10]. Những điều này là: (1) biến hóa thông (iddhividhā),(2) thiên nhĩ thông (dibbasota); (3) tha tâm thông (cetopariyañāṇa); (4) thiên nhăn thông (dibbacakkhu) nhờ đó biết tái sanh của tha nhân; (5) túc mạng thông (pubbenivāsānussati); và (6) lậu tận thông (āsavakkhaya) xin cũng đọc td. Trung Bộ Kinh (M) i 34tt, Thanh Tịnh Đạo 373tt; năm điều đầu tiên lại thuộc hiệp thế và bất kỳ ai cũng có thể chiếm được chỉ cần nhập thiền jhanas giỏi; điều thứ sáu chỉ thuộc cơi siêu thế mà thôi (lokuttara)

[11]. Chú giải Ce Be giải thích là pi (Se ghi pī) c̣n bản văn lại ghi là ca.

[12]. Dhutagāni; các hạnh đầu đà chỉ là những tập luyện tự nguyện về: (1) chỉ mặc những thứ rách rưới lượm được từ những đống rác; (2) chỉ mặc có ba y cà sa mà thôi, (3) chỉ nhận thực phẩm bằng cách đi khất thực mà thôi; (4) đi khất thực liên tục; (5) chỉ dùng vật thực có một lần trong ngày; (6) chỉ dùng có một bát khất thực để ăn mà thôi; (7) từ chối không nhận thực phẩm sau đó; (8) cư trú trong rừng rậm; (9) cư ngụ dưới gốc cây; (10) cư trú ngoài trời; (11) cư trú nơi băi tha ma; (12) chỉ dùng bất kỳ loại giường nào được dâng cúng cho và (13) kiêng cữ không nằm xuống để nghỉ ngơi. Thanh Tịnh Đạo 59tt,  chú giải Vin v 131; Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 219tt; cũng xin đọc chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 252 dưới đây.

[13]. Uccākulikabhāve; chú giải Be ghi là uccao Ud-a 181 dưới đây về uccāsaddā/uccasaddā.

[14]. V́  đă được đề cập đến một cách riêng biệt trong Ud.

[15]. Chú giải Thanh Tịnh Đạo 71tt, đă chỉ cho thấy đây là một định nghĩa về Luật trong đó bắt đầu và kết thúc trong rừng; theo thắng Pháp (Vibh 251, Ps i 176) lại bắt đầu ở vùng giáp ranh với một ngôi làng, trong khi đó trong Kinh Tạng (Vin iv 183) phương pháp lại bắt đầu ở một khoảng cách độ 500 cây cung. Cùng một đoạn đó cũng mô tả khoảng cách của một ngôi làng và các vùng phụ cận ngôi làng đó.

[16].Vivittaṃ; nghĩa đen là làm tách rời ra. xin đọc chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 427. 

[17]. Chú giải Ce Be Se giải thích là jhānakaṇṭakāna; c̣n bản văn lại ghi là vyādhakassakāna, về phía những tay săn nai và nông dân; về âm thanh là một cây gai của sơ thiền, xin đọc Av 134tt; cũng đọc Thanh Tịnh Đạo 269 đă trích cùng một thứ âm thanh đó khi đề nghị lấy rừng sâu làm nơi tu luyện thiền Jhanas.

[18]. Bahulaṃ

[19]. Chú giải Be Se Ud giải thích là udānesī ti; c̣n bản văn lại ghi là udānetī ti. Ce ghi udāneti.

[20]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pītisamuṭṭhāna, là những ǵ lấy xuất xứ của hỷ. C̣n bản văn th́ ghi là pītisamuggāra, chỉ có chú giải Se là coi đó như là một vl. Chú giải Ud-a 200 dưới đây. Tự điển Childers hay PED không lịêt kê từ Samuggāra.

[21]. Chú giải Ce Se giải thích là sahagataṃ, c̣n bản văn Be ghi là sahitaṃ; ư nghĩa ở đây khó ḷng có ảnh hưởng ǵ.

[22]. Chú giải Ce Be giải thích là esa; bản văn Se lại bỏ qua.

[23]. Chú giải Se giải thích là hi Bhikkhū (Ce Be ghi bhikkhū) c̣n bản văn lại ghi là bhikkhu

[24]. Thay v́ điều này có thể được coi như là: tập Udāna phải có liên quan đến hạnh phúc tột đỉnh viễn ly của một  vị Trưởng lăo.

[25].  Asandehena; ư nghĩa này không thấy liệt kê trong tự điển PED

[26]. Thế rồi Ngài đă đạt đến A la hán: v́ trước đó khi c̣n là một cư sĩ Ngài đă cảm nghiệm được hạnh phúc vương quyền.

[27]. Chú giải MA i 77: eva’ sa te = evaṃ assa te; (theo cách thức như vậy đối với những ai các phiền năo không c̣n tồn tại nơi họ nữa) th́ ư nghĩa này xem ra hơi tối nghĩa trong bản dịch của MLS i 13, nhưng cũng xin đọc bản dịch của ngài Ñāamoli, Kho báu lời Phật dạy ( A Treasury of the ’s Words), ii 239.

[28]. Không thể truy t́m được nguồn gốc. Theo chú giải Be “Vin i  21 (Be)”.

[29]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ullapanasabhāvasaṇṭhitā c̣n bản văn lại ghi là ullapanasabhāvasahitā;  chú giải chú thích trong Ud-a 193 dưới đây.

[30]. Chú giải Ud-a 6 ở trên.

[31]. Sādhu; hay thật tốt, khỏe, vâng.v.v…

[32]. Puna; thực tế có ba biến cố xảy ra trong Udāna, v́ thế đây có thể được coi như là biến cố cuối cùng.

[33]. Chú giải Be Se giải thích là paṭiññāya /Abhikkhaam c̣n bản văn ghi là paṭiññāya abhikkhae, Ce ghi paiñnāya abhikkhaa// Be, giống như bản văn, in những ǵ tiếp theo dưới dạng một cước chú. Cho dù điều này không phù hợp với thứ tự các từ trong Udāna, chính v́ thế mà h́nh như đây chỉ là một lời tuyên bố do chính ngài Bhaddiya thốt ra do cách phân đoạn của Dhammapāla bằng cách nào các Tỳ khưu đă nói về Ngài.

[34]. Ce Be Se giải thích là na jānātī c̣n bản văn ghi là jānāti.

[35]. Vadāpetvā; không thấy liệt kê cả trong tự điển Childers lẫn PED.

[36]. Chú giải Ud-a 120 ở trên.

[37]. Ce Be giải thích sacaraaṭṭhānabhūte (Se ghi sacaraabhūte) c̣n bản văn ghi là savaraaṭṭhānabhūte.

[38]. Chú giải Ce Be Se giải thích là suṭṭhu c̣n bản văn ghi là rattisu pi yodhā; đây chỉ là một từ nguyên tương đương của từ susavihitā<suṭṭhu samantato vihitā.

[39]. Chú giải Ce Se giải thích là ārakkhādhikatapurisehi c̣n bản văn ghi là ārakkhāhikatapurisehi. Be ghi ārakkhādikatapurisehi.

[40]. Chú giải Ce Be giải thích là pi (Se pī) và Udāna; c̣n bản văn lại bỏ qua.                 

[41].Chú giải Be giải thích là aḍḍao Se ghi aṭṭao c̣n bản văn Ce ghi là atthakaraaṭṭhānādike.

[42]. Bản văn thêm vào một dấu chấm sau atthaṃ, v́ chấm này bỏ qua trong bhīto ti; dấu chấm này thay vào đó phải xuất hiện trước từ samāno.

[43]. Phāsuvihārattha; được định nghĩa trong Udāna 129 ở trên 

[44]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Rakkhāvaraaguttiyā c̣n bản văn ghi là ’ āvāraagutti;  chú giải D i  62 (đă chấm câu sai từ rakkhā-varaao) và Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 109 = iii 149.

[45]. Chú giải Be giải thích là rājageharājadhānirajjadesesu c̣n bản văn ghi là rājagehe rājadhāniya rajjadesesu. Ce Se ghi rājagehe rājadhānirajjadesesu. 

[46]. Chú giải Ce Be Se giải thích là samāno//Bhīto ti ādīni c̣n bản văn ghi là samāno ādīni.

[47]. Ce (Se) giải thích pakatik(k) hobhato uppajjanakabhayubbegena ubbiggo calito (Be ghi pakatito uppajjanakabhayubbegena ubbiggo calito) c̣n bản văn ghi parikiṇṇo ubbijjanakabhayubbegena ubbiggo calito susavihita-rakkhāvaraato

[48]. Chú giải Be giải thích là sakarajje c̣n đối với bản văn Ce Se ghi là sakalarajje, trong khắp vương quốc của Ngài.

[49]. Một từ nguyên tương đương tức là ussakī (<Ud + sak) <uddha-mukha sakamāno.

[50]. Ce Be Se giải thích là raññā c̣n bản văn ghi là rañña.

[51]. Bản văn chèm thêm pi vào;  chú giải Ce Be Se lại bỏ qua.

[52]. Một từ nguyên tương đương – utrāsī <uppannena / uppādana + tāsena.

[53]. Chú giải Ce Be Se giải thích là santikāvacarehi c̣n bản văn ghi là santikā’va carehi.

[54]. Giống như Udāna (Ee).  

[55]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vūpakaṭṭhakāyata c̣n bản văn ghi là vivekaṭṭhakāyata;  chú giải Ud-a  231 dưới đây.

[56]. Ce Be Se giải thích là abhītāditā ti c̣n bản văn ghi là abhī’ ādikāni.

[57]. Chú giải Ce Se giải thích là kilesabhayassa c̣n bản văn Be ghi là kilesassa.

[58]. Về những ǵ tiếp theo sau đó, xin đọc chú giải MA iii 166tt.

[59]. Chú giải Be giải thích cũng như vậy; c̣n bản văn Ce Se ghi là paradavutto.

[60]. Về Paradavutto, chú giải B Disc v 259 n 2 và VofU 24 n 3 Woodward nhận định rằng các ư nghĩa như “sống nhờ vào…y cà sa do người khác dâng cúng” và “sống nhờ vào của bố thí của người khác “thực sự không thể áp dụng vào văn cảnh ở đây; ngoại trừ, người sống trong rừng sâu những điều đó thật khó ḷng hiểu được.  Khó khăn thực sự đối với bản dịch hiện hành chính là những  xung khắc với những lời tuyên bố trước đó là Bhaddiya là một người đă thực hiện được toàn bộ tam thập pháp đầu đà, v́ ông ta đă sử dụng y cà sa do người khác ban tặng rất có thể sẽ trở thành đối nghịch lại với pháp đầu đà đầu tiên, tức là ông chỉ được mặc những thứ