NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. BHADDIYA (2)

[363] Trong Kinh Phật thứ hai: đang khi tự cho ḿnh là người cần được huấn luyện (sekho ti[1] maññamāno): đang khi suy nghĩ trong tâm “người này là người cần được huấn luyện” đây chính là ư nghĩa của từ này trong trường hợp này[2]: trưởng lăo đă trở thành người cần được huấn luyện do ngài đă tu tập (sikkhati). Ngài đă tu tập những ǵ? Để có được tăng thượng giới, tăng thượng tâm[3] và tăng thượng tuệ; hay nói cách khác, tu tập (sikkhā) ở đây chính là hành vi tập luyện (sikkhanaṃ), do việc ngài đă trở thành người cần được huấn luyện chính là do việc (tập luyện, sikkhā) đó đă trở thành thói quen thường nhật[4]; v́ do thực chất là việc tập luyện đó vẫn chưa đạt đến tột đỉnh và do việc ngài đă tự nguyện thực hiện điều đó,  chính v́ thế ngài đă trở thành người mà việc tập luyện để trở thành công việc thường nhật (thói quen), không phải là người đă làm cho tính hăm hở trong công việc phải lắng dịu[5] giống như nơi những vị không cần được huấn luyện, đối với hạng người này th́ mọi việc tu luyện (sikkhanaṃ) hầu như đă kết thúc từ lâu,[6] ngay cả người đó đă không tự nguyện làm việc này, giống như với chúng sanh b́nh thường đă bỏ qua công việc tu luyện này. Ở mức độ to lớn hơn (bhiyyoso mattāya): đến độ vượt quá giới hạn, đến điểm vượt trội khỏi biên độ giới hạn, có nghĩa là quá đáng hay thái quá. V́ Trưởng lăo lùn Bhaddiya đă đoạn tận được hết các phiền năo bằng phương pháp đă đề cập đến trong (việc diễn giải) Kinh Phật thứ nhất ở trên đang khi vẫn ngồi thiền trong suốt thời gian đầu giáo giới. Nhưng vị tướng quân chánh pháp lại không chú ư tới việc chứng đắc A-la-hán đó, về phía ngài đă không biết đến chứng đắc này và vẫn coi ngài chỉ là một  bậc hữu học, giống như một con người hào hiệp đă bố thí rất hào phóng trong khi chỉ nhận lại rất ít,[7] vẫn diễn giải Phật Pháp ngày càng nhiều hơn bằng vô số cách nhằm đoạn tận các phiền năo; trong khi đó vị trưởng lăo lùn Bhaddiya lại không suy nghĩ, “giờ đây ta đă làm những ǵ cần phải là; đâu là điểm giáo giới này?” nhưng vẫn lắng nghe với ḷng kính cẩn thoả đáng như ngài vẫn làm trước đó, do ḷng kính trọng đối với diệu pháp. Vừa nhận ra điều này, đang khi Đức Phật vẫn c̣n ngồi thiền trong hương pḥng[8], sau khi đă quan sát thông qua uy lực của một Đức Phật theo đó vị tướng quân chánh pháp biết được việc đoạn tận các phiền năo của trưởng lăo, rồi khiến Phật Tự Thuyết khởi sanh, v́ lư do đó có lời nói rằng, “và vào dịp đó” v.v… bất luận điều ǵ cần được khẳng định về điểm này đă được khẳng định ngay tức khắc trong kinh ở trên.

Tuy nhiên trong đoạn kệ, ngài đă cắt bỏ ṿng luân hồi (tái sanh) (acchecchi vaṭṭaṃ): ngài đă triệt phá đến tận gốc rễ mọi phiền năo mà không dư sót bất kỳ điều ǵ; và[9]  khi phiền năo luân hồi này đă bị cắt bỏ, th́ cả nghiệp luân cũng được cắt bỏ như vậy. Đă đươc mệnh danh là những ǵ không được mong đợi (byāgā [10]nirāsa): chính là ái dục ta nói đến, ở đây là “khao khát” (āsā); v́ ở đây chẳng c̣n “khao khát”, đây chính là “những ǵ không c̣n vương vấn ái dục nào nữa” (nirāsā), tức là níp bàn. Chính v́ với cách phân định này ngài đă thoát khỏi (agā [11]), đă đạt đến, điều không mong muốn, “ngài đă vượt khỏi với đủ điều kiện” (byāgā)[12],  có nghĩa là do thực tế là ngài đă chứng đắc thánh đạo tột đỉnh, ngài đă đạt đến cùng một thánh đạo đó mà không cần phải đạt đến thêm một lần nữa,  v́ chẳng c̣n phiền năo nào ngài đă không đoạn tận được. [364] chính v́ thế[13] ngài nói rằng, “nguồn nước đă cạn kiệt th́ chẳng bao giờ chảy được nữa”, ám chỉ rằng ngài đă đoạn tận ái dục về phía ḿnh là điều độc nhất vô nhị; đây chính là ư nghĩa: ḍng sông chính là vô minh ái dục, đă cạn kiệt, đă sạch bóng mà không dư sót bất kỳ điều ǵ, với việc khởi sanh trí đi kèm với tứ đạo, giống như một con sông lớn vào lúc có mặt trời thứ tư [14] xuất hiện, sẽ chẳng c̣n chảy được nữa, sau đó cũng chẳng c̣n tiếp tục được nữa; v́ ái dục giống như một nguồn suối có ḍng chảy, theo đó “ḍng chảy và kích thướt nước bọt chính là những điều toại nguyện nơi chúng sanh”[15](Dhp 341)[16]  và những ǵ được đề cập đến “chính là ḍng chảy, là những vướng mắc”[17] (Dhs 1059; Nett 24) được nói đến[18]. Khi ṿng phiền năo bị cắt dứt, sẽ không c̣n quay trở lại được nữa (chinnaṃ [19]vaṭṭaṃ na vattati): do dị thục quả luân của các phiền năo đă bị triệt phá hết bằng cách đó, th́ phiền năo luân bị cắt đứt, nghiệp luân bị đoạn triệt thông qua những ǵ được tạo ra trong đó thâm nhập được vào[20] một pháp vô sanh[21] và một pháp vô dị thục, không c̣n quay trở lại (vattati), không c̣n tiếp tục (pavattati). Đây chính là chấm dứt đau khổ (’ anto dukkhassa): cùng một cách gián đoạn, do không c̣n phiền năo luân, nghiệp luân,  do chính ḿnh không c̣n khả năng tái sanh trong tương lai do dị thục quả luân[22] đă kết thúc, chính là giới hạn, biên giới[23] của tất cả mọi đau khổ đó chính là ṿng luân hồi (sasārā).

Việc diễn giải Kinh Phật thứ hai kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

[1]. Chú giải Ud-a (Ee) cũng giải thích giống như vậy – c̣n Ce Se giải thích là sekkho ti  - bản văn lại ghi là sekkhaṃ, Be giải thích là sekhaṃ; ngài Woodward đă khẳng định sai là Ud (Ee) giải thích là sekkho ti.

[2]. Từ se(k) kha thường được dùng để chỉ rơ về vị nhập lưu, vị nhất lai, và vị bất lai,  họ khác với vị A-la-hán rơ ràng là ase (k) kha.

[3]. Chú giải Ce Be Se giải thích adhisīla adhicitta c̣n bản văn ghi là adhicittañ ca

[4]. Sīla; hay là (giới), qui luật, học giới, v.v…

[5].  Chú giải Ce Be (Se) giải thích là paṭi (p) passaddhussuko c̣n bản văn ghi là paṭippassaddhasikkho.

[6]. Xin đọc chú giải  Thanh Tịnh Đạo 14.

[7]. Appa yācito bahu dadamāno udārapuriso, (chú giải Be Se giải thích là uārapuriso) viya; xin đọc chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 131 để biết thêm chi tiết tương tự như vậy, trong đó Ñāamoli (MR&I 142) giải thích uārapuriso là một “người hiếm có” ư này không thể dùng cho uāra/udāra (thường thường nguời ta gọi là “cao thượng” như đă được chứng thực trong tự điển PED, CPD hay SED; tuy nhiên tự điển sau cùng này lại ghi là “quảng đại”  “hào phóng”.

[8].  Chú giải Ce Be Se giải thích là gandhakuṭiyaṃ nisinno yeva c̣n bản văn ghi là gandhakuṭiyaṃ yeva nisinno.

[9]  Chú giải Ce Be Se giải thích là ca; c̣n bản văn bỏ qua. Xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 165 ở trên nói về các chu kỳ.

[10]. Ce Be Se giải thích giống như vậy c̣n bản văn lại bỏ qua  

[11]. Nguyên từ tương đương; byāgā < visesena agā.

[12]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích như vay (và cả chú giải Ud trước lúc sửa lỗi) c̣n bản văn ghi là byāga, ngài Woodward đă bác bỏ cách chữa lỗi này xin đọc từ trước đó. 

[13].  Be Se giải thích là tasmā’ ssa c̣n bản văn Ce ghi là tam assa.

[14]. Một  cách ám chỉ về Thanh Tịnh Đạo 416 – rất có thể là điều ngài Woodward muốn nói đến trong “VM, ch. 13” – trong việc phá huỷ thế giới theo định kỳ từng giai đoạn lại thấy xuất hiện trong đó sáu mặt trời khác trên bầu trời; khi xuất hiện mặt trời thứ ba th́ sông ng̣i cạn hết nước và khi mặt trời thứ tư xuất hiện, th́ bảy đại hồ trong vùng Himālaya (được liệt kê trong chú giải Ud-a 300 ở trên) cũng cạn hết v́ đây là đầu nguồn của những con sông đó.

[15]. Xin đọc chú giải Asl 363 tt cũng thấy trích điều này trong đó, và Pe Maung Tin (Expos 468) giải thích là “hỷ ướt át và sền sệt đă đến với các con trai của chúng sanh.” Sinehita h́nh như ở đây lại muốn ám chỉ khiến cho ai đó chảy nước miếng, Dhp-a iv 49 th́ giải thích rằng: chảy nước miếng bằng cách nước miếng chảy ra liên quan đến y cà sa v.v…đă bị đốm bẩn do nước miếng chính là ái dục rỏ nước miếng ra (sinehitānī ti cīvarādīsu pavattasinehavasena sinehitāni ca tahāsinehamakkhitāni)  

[16]. Sau khi đă xác định đúng nguồn gốc đoạn kệ này, ngài Woodward đă ghi thêm một chú thích khẳng định rằng “xin đọc DHS. §1058. bản dịch tr. 278n.” bằng đoạn này không c̣n nghi ngờ ǵ nữa ngài muốn ám chỉ đến Dhs 1059, mà thực chất là một trong số hai nguồn đối với trích đoạn sau đây, và không phải đoạn Dhp 335 như ngài tiếp tục khẳng định. Chú thích liên quan đó được t́m thấy trong cuốn  Một thủ bản về Tâm lư Đạo đức Phật giáo (A Buddhist Manual of Psychological Ethics) tái bản lần thứ ba trong 256 n 3

[17]. Saritā visattikā; xin cũng đọc chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 212; katamā ca bhikkhave tahā jālinīsaritā visaā visattikā. Liên quan đến visattikā xin đọc Asl 363tt (Expos 468); cũng xin đọc EV i 189 về Thag 400 và GD ii về Sn 333. 715. 

[18].  Ce Be Se giải thích là ’ āha c̣n bản văn ghi là yathā hi.

[19].  Chú giải Ce, thật kỳ lạ đă in cước chú thành latā chinna vaṭṭa na vattati. Điều này cũng gợi ư cho thấy là trích đoạn kể trên đă có thời được giải thích là saritā visattikā latā – xin đọc chú giải bằng cách nào Nett 24 lại giải thích saritā iti pi visattikā iti pi sineho iti pi kilamatho iti pi latā iti pi, với latā có nghĩa là (cây leo) cũng xuất hiện tương tự như vậy, tuy nhiên rất lâu sau này mới thấy xuất hiện trong Dhs. Ái dục giống như cây leo (latā) hiểu theo nghĩa tham dục kết dính bện chặt lấy nạn nhân (Asl 366) xin cũng đọc Dhp 340.

[20]. Āpādanena; không thấy liệt kê trong tự điển Childers, PED hay CPD, nhưng xin đọc chú giải SED sv

[21]. Xin đọc chú giải Ud-a 175 ở trên.

[22]. Chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 189 và Thanh Tịnh Đạo 581 có khẳng định rằng có ba luân bằng cách, phiền năo luân, nghiệp luân và dị thục quả luân. Ta không thể nào ngưng được nghiệp luân cho đến khi nào phiền năo luân được diệt trừ hết, một khi điều đó diễn ra th́ cũng làm cho dị thục quả luân ngưng lại v́ ṿng sau cùng này đặt căn nơi nghiệp luân.

[23]. Chú giải Ce Be Se giải thích là parivaumabhāvo c̣n bản văn ghi là parimavaumabhāvo.