|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
3. BỆNH NHÂN PHONG Trong Kinh Phật thứ ba: trong thành phố Rājagaha có một bệnh nhân phong tên là Suppabuddha (Rājagahe Suppabuddho nāma kuṭṭhī ahosi): trong thành Rājagaha có một người tên là Suppabuddha[1]; ông ta là một bệnh nhân phong, chân tay của người đó đă bị huỷ hoại một cách nghiêm trọng do bệnh phong[2]. Là người nghèo khổ nhất trong số các cư dân trong thành (manussadaliddo): tới mức độ hết mọi chúng sanh sống trong thành Rājagaha trong số những người đó, người này thuộc dạng người cùng cực nhất[3]; v́ người đó phải đắp vào ḿnh chiếc áo, bằng cách thu gom những vật c̣n sót lại[4] và những miếng giẻ rách đă vứt vào thùng rác và cả những ǵ vướng trên hàng rào v.v… (chính v́) để sống sót qua ngày người đó đă tự nuôi sống ḿnh bằng thứ cơm thừa cặn bă và những thứ bỏ đi sau bữa ăn,[5] có được sau khi lấy tô của ḿnh[6] lê lết hết từ nhà này sang nhà khác cho dù những ǵ người đó có được là do hậu quả của những hành vi thiện người đó đă thực hiện trước đó. V́ lư do đó có lời nói rằng: “Đây là người nghèo khổ cùng cực nhất”. Một người phải chịu gian khổ cam go lớn lao nhất trên cơi đời này (manussakapaṇo): là người đă đạt đến tột đỉnh cùng cực trong đó khả dĩ có liên quan đến bất kỳ chúng sanh nào. Con người thấp kém nhất trên cơi đời này. (manussavarāko): khốn khổ nhất trên cơi đời này do có nhiều người tỏ ra thù nghịch và bị đối xử khinh miệt. Do một hội chúng lớn lao (mahatiyā parisāya): do Tăng đoàn các vị Tỳ khưu và đoàn thể đông đảo các thường dân. Cả hai đoàn thể này có rất đông người, người ta kể lại rằng một ngày kia đang khi quay trở lại thành Rājagaha sau chuyến đi khất thực sau bữa trưa, và đă vào thành Rājagaha để khất thực cùng với một Tăng đoàn đông đảo các vị Tỳ khưu đi theo ngài và sau khi đă tính toán với số đông các vị Tỳ khưu như vậy sẽ dễ dàng nhận được của bố thí, Đức Phật đă dừng lại, khi c̣n đang lưu lại trong thành phố, lúc đó ngài ra khỏi thành với một số ít các vị Tỳ khưu làm thành một đoàn tùy tùng đến một điểm vui chơi, chờ cho những cận sự nam sẽ thực hiện bố thí cho các vị Tỳ khưu c̣n lại. Lúc đó có các vị Tỳ khưu đến từ khắp nơi đang vây quanh Đức Phật có cả các chúng dân cũng đi đến gặp Đức Phật nghĩ rằng họ có thể trở về nhà ngay sau khi đă đảnh lễ Đức Phật và nghe Ngài chúc phúc[7] đây quả là một Tăng đoàn đông đảo. Đức Phật đă gợi ư ngài có ư định ngồi xuống; và ngay lập tức họ đă sửa soạn một chỗ ngồi xứng đáng dành cho một Đức Phật. Tiếp đến, Đức Phật [280] đă thắp sáng toàn bộ địa điểm[8] đó, với một luồng sáng rực rỡ khôn ví nơi thân xác của Ngài, sáng chói với ba mươi hai tướng của một đại nhân được trang điểm với tám mươi tướng phụ khác nữa, trong một khu vực được chiếu sáng rực rỡ, ánh sáng lan toả ra hàng sải và toát ra hào quang sáu màu nơi một Đức Phật bằng những tia sáng màu xanh, vàng, đỏ, trắng,[9]đỏ thẫm và toát ra ánh sáng rạng rỡ, vây quanh là một đoàn các vị Tỳ khưu giống như trăng rằm vây quanh là một đám đông[10] các cḥm sao, Ngài ngồi trên một nơi mà chiếc ghế dành riêng cho Đức Phật đă được sửa soạn kỹ lưỡng, tiếng Ngài thoát ra giống như tiếng rống sư tử đực[11] trên đỉnh ngọn Manosilātala,[12]rồi Ngài diễn giải Giáo Pháp với giọng nói Phạm Thiên, hấp dẫn như tiếng gọi chim cu[13] Ấn Độ. Hơn thế nữa, những vị Tỳ khưu đó[14], là những người thiểu dục, hoàn toàn tri túc, thực hiện cuộc sống sa môn, không giao du với bất kỳ ai với chánh tinh tấn khởi điểm, và tận tâm tận lực[15] trong công việc, là những người khiển trách những ǵ là bất thiện,[16] là những thuyết giảng,[17] là những người rất chú tâm lắng nghe người khác,[18] là những người có giới hạnh tốt (morality), chứng đắc thiền định, trí tuệ, giải thoát, tri kiến giải thoát chỉ che thân ḿnh với những chiếc y cà sa hèn hạ với màu sắc một đám mây giông. Thế rồi vây quanh Đức Phật giống như một đoàn voi đầy sức mạnh,[19] dũng mănh đến thời động dục[20] và họ lắng nghe Giáo Pháp với nhĩ thanh tịnh. Trong khi đó cả những cư dân khoác áo choàng ngoài sạch sẽ tươm tất (c̣n khoác ngoài với những chiếc áo choàng, sau khi họ đă khởi sự cuộc bố thí vào ngay sát na đặc biệt buổi sáng[21], kính lễ Đức Phật với hương nhang và ṿng hoa v.v… kính chào ngài và tỏ rơ ḷng kính phục đối với Tăng đoàn các vị Tỳ khưu. Thế rồi họ vây quanh Đức Phật cùng với Tăng đoàn các vị Tỳ khưu và với cánh tay và cẳng chân xếp lại với nhau,[22]họ lắng nghe Giáo Pháp hết sức chăm chú, với tai chăm chú lắng nghe. V́ lư do đó có lời nói rằng “ vào dịp đó, Đức Phật đă ngồi diễn giải Phật Pháp vây quanh là một Tăng đoàn đông đảo các vị Tỳ khưu.” Nhưng buồn chán v́ đói khát và yếu đuối, vừa nh́n thấy đoàn người đông đảo từ xa xa, Suppabuddha đă đi xuống trong nội ô thành phố đi lang thang khắp nơi t́m kiếm cỏ khô và cũng chạy tới nơi đó, ḷng tràn đầy ước muốn nghĩ rằng: “Tại sao đám người đông đảo kia lại tụ tập ở đây? Chắc chắn rằng v́ người ta đang phân phát của bố thí tại đó; hăy thử chạy lại[23] đó, may ra ta sẽ kiếm được vật ǵ bỏ vào bụng cho dù là của bố thí mềm hay cứng.” Sau đó hắn nh́n thấy Đức Phật, tỏ ḷng kính nể và chiêm ngưỡng con người xứng đáng được tôn kính, hắn đă chứng đắc thuần thục và an tịnh[24] tột đỉnh, được thuần thục, tránh né, với căn an tịnh[25] và tràn ngập điềm tĩnh[26], Đức Phật đang diễn giải Phật Pháp có Tăng đoàn đông đảo đó vây quanh; được thôi thúc vừa nh́n thấy ngài, qua chứng đắc thành công tiềm năng, hoàn toàn trưởng thành[27] và được củng cố nơi lần tái sanh[28] trước đó, chính hắn tự ngồi xuống bên cạnh Tăng đoàn nghĩ rằng, “ Giả như cả ta nữa cũng được nghe Phật Pháp ?” Liên quan đến vấn đề đó có lời nói rằng “Và Suppabuddha người bệnh phong nh́n thấy… và ngay lúc đó hắn tự ư ngồi xuống một bên, nghĩ rằng cả ta nữa cũng được lắng nghe Phật Pháp”. [281] Bao gồm toàn bộ: Sabbāvantaṃ = sabbāvatiṃ (một dạng ngữ pháp khác) đây là một tập thể bao gồm toàn bộ các cá nhân, kể cả những người hạ cấp v.v…[29] có nghĩa là không loại trừ bất kỳ ai đang có mặt tại đó[30]. Họ cũng c̣n giải thích là sabbavantaṃ[31]. Cùng với suy tư của ḿnh (cetasā): với tâm liên kết với Phật Nhăn; v́ trí được định nghĩa dưới tiêu đề tâm, chính v́ thế mà ư nghĩa ở đây là cộng[32] với trí của ngài được coi như là các xu hướng có tùy miên (nơi chúng sanh) và với trí của ngài về những pháp cả cao lẫn thấp trong việc tu luyện quyền nơi chúng sanh[33]. Bao quát và tác ư với tâm (ceto paricca manasākāsi): phân định ranh giới một cách riêng rẽ (paricchinditvā) và tác ư (manasi akāsi)[34] (một dạng ngữ pháp khác) tâm nơi tập thể đo,[35] hắn đă quan sát họ. Bất kỳ người nào có khả năng nhận thức Phật Pháp (bhabbo dhammaṃ viññātuṃ): bất kỳ người nào có thể chăm chú lắng nghe Phật Pháp dưới dạng thánh đạo và thánh quả, có nghĩa là bất kỳ người nào có tiềm năng đó. Điều này đă diễn ra (etad ahosi): điều này đă xuất hiện, tức là. “Cho dù Suppabuddha đă phải tái sanh như vậy sau khi đă xúc phạm vị Độc Giác Phật Tagarasikhi, th́ tiềm năng của người này liên quan đến thánh đạo và thánh quả này đem lại, tuy nhiên vẫn c̣n toả sáng nơi cơi ḷng hắn[36] giống như một chiếc nhẫn vàng phủ đầy bụi bậm[37] hắn cũng vẫn dễ dàng nhận thức được[38]điều đó” v́ lư do đó có lời nói rằng, “trong trường hợp hiện nay, người này có khả năng thấu triệt được Phật Pháp . Một cuộc thuyết tuần tự pháp (ānupubbikathaṃ): một cuộc diễn giải Phật Pháp[39] (tiếp diễn liên tục) liên tiếp bắt đầu với bài pháp về giới (morality) tiếp theo sau đó là một cuộc bố thí, thuyết pháp về thiên đàng, thuyết pháp về thánh đạo; trong ví dụ đầu tiên Đức Phật đă chỉ ra cho thấy hương vị ngọt ngào[40] cùng với nhân duyên phát sanh hương vị đó, rồi Ngài thuyết giảng bằng nhiều phương tiện khác nhau vạch ra mối hiểm họa trong đó; để có thể giúp chúng sanh thoát khỏi mối hiểm họa đó, và rồi cuối cùng Ngài chỉ rơ cho những ai cảm thấy bối rối đang lúc nghe đến mối hiểm nguy đó,[41] ṿng luân hồi bị triệt tiêu, mở đầu với việc giải thích về hạnh (virtue) xuất ly. Thuyết pháp về bố thí (dānakathaṃ): diễn giải đi kèm với những đức hạnh liên quan đến bố thí[42] như, “Ta coi việc bố thí này là nguồn gốc (mọi) hạnh phúc, là nền tảng cho mọi thứ tiêu khiển sảng khoái,[43] là người bảo vệ, là nơi trú ẩn an toàn, là định nghiệp, là nơi qui y chung cuộc cho mọi chúng sanh phải chịu đựng muôn vàn bất ổn[44]; liên quan đến cả cuộc sống ở kiếp này lẫn kiếp sau.[45] là nơi chẳng c̣n điều ǵ hỗ trợ, không c̣n căn nguyên nào, là vật liên kết, là người bảo vệ, nơi trú ẩn, định nghiệp hay là nơi quy y chung cuộc tương tự như những ǵ bố thí đem lại; v́ việc bố thí này, hiểu theo nghĩa là việc hỗ trợ; giống như ngai vàng nhà vua được xây dựng bằng ngọc quí châu báu, hiểu theo nghĩa nền tảng; giống như trái đất vĩ đại này, hiểu theo nghĩa là sợi dây liên kết[46], giống như một sợi dây nối kết lại; hiểu theo nghĩa chống lại (làm thất bại) mọi đau khổ, giống như con thuyền; hiểu theo nghĩa cổ vũ động viên, là ḷng can đảm trong chiến đấu,[47] hiểu theo nghĩa bảo vệ toàn diện khỏi mọi sợ hăi, là một thành tŕ vây quanh là một chiến hào[48] vững chắc; hiểu theo nghĩa không bị hoen ố do những uế trược ích kỷ v.v…[49]giống như một bông sen hồng, hiểu theo nghĩa thiêu rụi hết mọi (uế trược) này[50], giống như một ngọn lửa, hiểu theo nghĩa phải va chạm với những khó khăn[51], giống như măng xà, hiểu theo nghĩa phải run sợ[52], giống như con sư tử, hiểu theo nghĩa có sức mạnh phi thường, giống như con voi, hiểu theo nghĩa đó là một thắng lợi đầy hứa hẹn trước mắt,[53]giống như con ḅ mộng trắng, hiểu theo nghĩa đạt tới được khu an toàn.[54]giống như Valāhaka, hiểu theo nghĩa đó là một thống soái ngựa ṇi.[55] V́[56] chính việc bố thí đó có liên quan đến cơi thế gian này là loại ánh sáng chói chang vương đế, là Chuyển luân vương tuyệt hảo, là Đế thích tột đỉnh, là Ma vương tài ba, là vị Phạm Thiên đầy uy lực, [282] là Ba la mật và là trí cho toàn bộ các thinh văn, là trí dành cho vị Độc Giác Phật, việc chứng đắc trí cũng lại chính là toàn giác vậy. v.v… Hơn thế nữa, v́ khi thực hiện bố thí, ta c̣n có khả năng thực hiện việc giới đức (giới = morality), chính v́ thế người đó sẽ diễn giải về pháp giới đức[57] ngay sau khi đă thuyết pháp về bố thí vậy. Diễn giải về giới đức (sīlakathaṃ): thuyết pháp liên quan đến giới đức (giới), như “Giới này chính là tên gọi dành cho sự trợ giúp, là nền tảng, là sợi dây liên kết[58], là người bảo vệ, là nơi trú ẩn, định nghiệp, là nơi quy y chung cuộc cho hết mọi chúng sanh[59]. V́ chẳng c̣n hỗ trợ nào, chẳng c̣n nền tảng nào, chẳng c̣n sợi dây liên kết nào,[60] là người bảo vệ, là nơi trú xứ an toàn, là định nghiệp, là nơi cậy nhờ chung cuộc giống như giới đức (giới) đó, v́ nhưng điều tuyệt hảo đó lại chỉ thuộc về hoặc là cơi đời này hay thuộc cơi đời sau mà thôi. Chẳng có điều ǵ có thể trang hoàng đẹp đẽ như đồ trang điểm do giới đức (giới) đem lại. Cũng chẳng có hương thơm nào giống như hương thơm nơi giới đức (giới) cả, trên cơi thế gian này, cùng với các Chư thiên, khi ta ngắm nh́n những ai được trang điểm với đồ trang sức xuất phát từ giới đức, người nào được trang hoàng với vẻ tươi sáng chính là giới đức, người nào được xức thứ dầu thơm lại chính là giới đức (giới) đơn giản người đó chẳng bao giờ cảm thấy thoả măn cả” v.v… Hơn thế nữa, Ngài c̣n diễn giải một bài pháp liên quan đến thiên đàng tiếp theo ngay sau đó bằng chính giới đức (giới) để làm rơ một điểm là chính nhờ có giới đức (giới) như vậy ta có thể chứng đắc thiên đường vậy. Diễn giải về thiên đường. (saggakathaṃ): bài thuyết pháp liên quan đến những đức hạnh thiên cung. Giống như thể “Thiên đàng là tên gọi dành cho những ǵ đáng ước ao, dành cho những ǵ gây cảm khoái, là những ǵ quyến rũ và lôi cuốn. Tại thiên đàng chỉ có tiêu khiển vui thú, chứng đắc được những điều tuyệt hảo vĩnh viễn.[61] Các Chư thiên thuộc cơi Tứ Đại ThiênVương có được hạnh phúc thiên đường, chiếm được tột đỉnh thiên đường, trong ṿng chín mươi ngàn năm. Những người thuộc cơi tam thập tam trong ṿng ba mươi triệu năm, cộng với sáu triệu năm (ngoài ra) v.v…[62] v́ chẳng có lời nào diễn tả đầy đủ[63] khi Đức Phật nói về sự tuyệt hảo thiên đường và người ta nói về điều này như sau: “Hỡi các vị Tỳ khưu, có rất nhiều phương thức để diễn giải thiên đường.”[64] ( [65] ) v.v…..sau khi đă thỉnh cầu[66] ngài giảng giải về thiên đàng cùng với nhân duyên chứng đắc thiên đàng đó, tiếp theo sau đó, như thể cắt đứt[67] ṿi voi Ngài vừa mới trang điểm, Ngài diễn giải về mối hiểm nguy, về tai họa, về nguy hiểm nơi các dục lạc theo cách sau đây, “dục lạc (dục vọng)[68]chỉ đem lại chút ít ngọt ngào song đem lại rất nhiều đau khổ, rất nhiều thất vọng và c̣n hơn những mối hiểm nguy xuất phát từ đó mà ra” (Trung Bộ Kinh (M) i 130) v.v… với mục đích chứng tỏ rằng ngay cả thiên đàng cũng chỉ là vô thường, không bền vững và ngay cả ước ao, mong mỏi và tham dục không được tu luyện theo hướng đó. Về điểm này: Mối hiểm nguy (ādīnavaṃ): vết nhơ (làm hoen ố thanh danh). Việc làm mất thanh giá (okāraṃ): do chính bản chất đó là điều ti tiện,[69] có nghĩa là tự bản chất, đó là mục tiêu những người bất thiện (xấu) theo đuổi, chớ không phải mục tiêu theo đuổi của những người thánh đức[70]. Việc tha hoá (saṅkilesam) : những điều ô uế trong ṿng luân hồi[71], chính v́ lư do đó có lời nói rằng: “Thưa ngài, quả thực chúng sanh đă trở thành vẩn đục (ô uế).”[72] ( [73] ). Sau khi đă cảnh báo vị ấy trước những hiểm nguy dục vọng. Thế rồi Ngài (Đức Phật) làm rơ những lợi thế liên kết với hạnh viễn ly, ngài đă làm rơ, khen ngợi đức hạnh liên kết với việc xuất gia và hành thiền Jhanas v.v…Liên quan đến “tâm trí luôn sẵn sàng” v.v…[74] liên quan đến tâm trí luôn sẵn sàng (kallacittaṃ): với tâm luôn sẵn sàng làm việc. [283] với tâm luôn sẵn sàng qua việc tiến gần đến Phật Pháp ta phải theo đuổi, do thực chất là bất thiện làm hoen ố tâm như thiếu niềm tin v.v…(đức tin này) đă biến mất do việc diễn giải đă thực hiện trước đó, có nghĩa là với tâm có khả năng tuân thủ công việc.[75] Với tâm dễ dạy (muducittaṃ) do mọi phiền năo[76] tà kiến và kiêu mạn v.v… đă biến mất. Với tâm hoàn toàn trống rỗng không có bất kỳ pháp cái nào (vinīvaraṇacittaṃ) do tham dục v.v…đă biến mất[77], với tâm hướng thượng (udaggacittaṃ) qua nỗi vui mừng hỷ lạc khôn tả trong tu luyện thánh đạo[78], với tâm đầy nhiệt t́nh (pasannacittaṃ) thông qua chứng đắc niềm tin thành công trong đó[79] “Khi Đức Phật biết rơ (Suppabuddha, một bệnh nhân phong)” đó là mối tương quan. Nói cách khác, với tâm luôn sẵn sàng (kallacittaṃ): với tâm thoát khỏi bệnh hoạn do không c̣n tham dục; với tâm dễ dạy (mudicittaṃ): với tâm không c̣n cứng rắn, là do kết quả từ tâm đem lại v́ không c̣n ác ư; với tâm không c̣n bất kỳ pháp cái nào: với tâm không[80] khép lại[81] do không bị chao đảo, không bị phân tâm và phiền muộn; với tâm hướng thượng (udaggacittaṃ): với tâm tích cực, qua tinh tấn[82] do không c̣n hôn trầm và thụy miên quấy phá; với tâm hướng thượng (udaggacittaṃ) với tâm luôn chuẩn bị, liên quan việc tu luyện đúng đắn, do không c̣n nghi kỵ. Thế rồi (atha): sau đó, họ tự khám phá ra chính ḿnh: sāmukkaṃsikā = sāmaṃ ukkaṃsikā[83] (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) họ đă thông hiểu rơ ràng chỉ sau khi đă tự ḿnh khám phá ra điều đó, họ cũng đă tự ḿnh[84] nhận ra được với trí tuệ, có nghĩa là điều không chia sẻ với người khác được. Và[85] hơn thế nữa, đây là điều ǵ vậy? là việc giảng dạy các thánh đế, chính v́ lư do đó Ngài nói rằng: “Đau khổ, tập, diệt và thánh đạo.” V́ đây chính là tri kiến dưới dạng các thánh đế; chính v́ thế tại điểm này mà các thánh đế là điều phải được bàn tới. (Nhưng) v́ những vấn đề này đă được đề cập đến rất chi tiết, dưới mọi t́nh huống trong Thanh Tịnh Đạo[86] ta nên hiểu theo cách thức đă được nói đến trong đó. Ngài làm rơ bằng các ẩn dụ bắt đầu bằng “Chính v́ thế” việc diệt trừ các phiền năo và khởi sanh thánh đạo đối với Suppabuddha. Từ đó những vết đốm đen đă biến mất (apagatakāḷataṃ) : từ đó các vết đốm đen đă biến mất. Một cách thích hợp (sammā-d-eva): tuyệt vời[87]. Thuốc nhuộm (rajanaṃ): phẩm màu như thể màu xanh, vàng, đỏ và đỏ thẫm v.v…có thể chấp nhận (paṭiggaṇheyya[88]): có thể đảm nhận[89]có thể trở thành bóng láng[90]. Vẫn c̣n ngồi trên chiếc ghế đó (tasmiṃ yeva āsane): vẫn trong buổi họp đó.[91] Bằng cách đó ngài đă làm rơ việc kết thúc thiền minh sát, là đặc tính sắc bén tuệ giác của ngài,[92] đặc tính thoải mái trong tập luyện[93] và trí siêu thế của Ngài[94]. Sạch bụi, vô tỳ vết (virajaṃ vītamalaṃ): sạch bụi do không có bụi bậm tham dục v.v…[95] dẫn đến khổ cảnh, vô tỳ vết do việc ra đi, không dư sót bất kỳ điều ǵ là tỳ vết do tà kiến và nghi ngờ v.v…[96]. Hay nói cách khác[97] sạch bụi do không c̣n bụi bẩn, các phiền năo đă bị diệt trừ nơi sơ đạo,[98]vô tỳ vết bằng việc diệt trừ hết năm loại tỳ vết do ác giới[99] mà ra. Đây chính là thánh đạo nhập lưu (chính đây[100]) ám chỉ bằng “Pháp nhăn” “bất kỳ điều ǵ mang bản chất sanh th́ cũng mang sẵn bản chất diệt” được nói lên với mục đích làm rơ trạng thái sanh, v́ sau khi đă lấy diệt làm đối tượng lại nổi lên [284] việc thấu triệt các pháp tạo thành do chỉ[101] bằng cách thực hiện bốn nhiệm vụ đó mà thôi. Đây chính là cách áp dụng ẩn dụ trong trường hợp này[102]: (tâm của suppabuddha được coi như tấm vải, tâm của ông đă bị tha hoá do các vết nhơ tham dục v.v…giống như tấm vải do những vết nhơ ngẫu nhiên[103] làm dơ bẩn, cuộc thuyết pháp liên tiếp giống như miếng ván giặt[104], c̣n đức tin giống như nước. Việc khởi đầu tinh tấn liên quan đến tẩy gội tâm thông qua phương pháp niềm tin v.v…[105] sau khi đă được thấm nước[106]trong nguồn suối[107] niềm tin và rồi bằng chánh niệm, chánh định và trí tuệ làm tan biến các phiền năo, giống như việc giặt giũ quần áo, trước tiên quần áo thấm ướt trong nước[108] và rồi tẩy sạch các vết bẩn do phân ḅ bằng bột giặt.[109] Việc diệt trừ[110] các phiền năo bằng khởi đầu tinh tấn giống như diệt trừ các vết dơ đen ng̣m trên quần áo bằng việc[111] giặt giũ đó, thánh đạo giống như việc tẩy màu. (Đang lúc) thực hiện tẩy rửa tâm, thông qua thánh đạo, trong đó các phiền năo đă được triệt phá, giống như pháp quần áo đă được giặt sạch tỏa sáng chói chang sau khi đă được giặt giũ theo cách nêu trên. Hơn thế nữa, Suppabuddha[112] v́ muốn nói cho vị Đạo sư về những ân đức ông ta đă đạt được bằng cách chứng đắc thánh quả Nhập Lưu, sau khi nghe Thuyết Pháp, ngài đă ngồi cạnh Tăng đoàn, (ấy vậy) vẫn chưa dám tự ḿnh ngồi vào giữa Tăng đoàn. (Chờ cho đến khi) Đức Phật đi vào thiền viện, và lúc đó khi phật tử đă ra về sau khi đă đảnh lễ Đức Phật, và rồi chính ông ta cũng theo vị đạo sư vào trong thiền viện. Vào lúc đó, Đế thích, vua Chư thiên nhận ra Suppabuddha là bệnh nhân phong ước ao muốn tỏ rơ các ân đức ḿnh đă chứng đắc nơi giáo lư của Đức Phật, liền ra đi với ư định thử thách ông thế rồi, đang khi bay trên không trung, đă nói những điều này với người bệnh phong: “Hỡi Suppabuddha nhà ngươi là một trong số những người nghèo khổ nhất nơi chúng sanh, là người phải chịu gánh nặng đau khổ lớn lao nhất, một người hèn hạ nhất nơi chúng sanh; ta sẽ ban cho nhà ngươi vô số tài sản giàu sang (nếu nhà ngươi chỉ ) nói rằng Đức Phật chẳng phải là một Đức Phật, đức Pháp của ngài chẳng phải là Phật Pháp, và Tăng đoàn của ngài cũng chẳng phải là Thánh Tăng và nói thêm rằng nhà ngươi đă mất ḷng tin Đức Phật, đă mất ḷng tin đức Pháp và mất ḷng tin Tăng đoàn của ngài”. Thế rồi ông ta cất tiếng hỏi: “Nhà ngươi là ai vậy? “Ta là Đế thích, vua các Chư thiên” (hắn trả lời cho Supppabuddha biết) nói rằng: “Nhà ngươi là đồ ngu si mù loà! Nhà ngươi là đồ vô liêm sỉ, nhà ngươi không xứng đáng nói với ta, nhà ngươi[113] đă nói những điều không được nói ra; Và hơn thế nữa, tại sao nhà ngươi lại cho ta là đồ nghèo hèn, là người đáng thương, là người phải chịu đau khổ cùng cực nhất? Ta chẳng phải là người con trai được sanh ra từ vị cứu tinh nhân loại sao? Ta chẳng phải là người cùng khổ nhất, cũng chẳng là người nghèo hèn hay là người phải chịu đau khổ cùng cực nhất đâu; trái lại ta là người đă đạt đến hạnh phúc tột đỉnh, hơn thế nữa, liên quan đến niềm hạnh phúc tột đỉnh đó ta là người giàu[114] có nhất trên đời này. Rồi có lời nói rằng: [285] “Tài sản giàu có là đức tin, tài sản giàu có là giới đức (giới= morality), tài sản là hổ thẹn (shame) và lại là nỗi sợ bị khiển trách, tài sản chính là lắng nghe Phật Pháp, tài sản chính là giải thoát[115]và tuệ giác, đương nhiên[116] là điều thứ bảy – v́ đối với người nào có được những tài sản đó cho dù là phụ nữ hay nam giới, chính người đó có thể nói rằng, ḿnh chẳng phải là người nghèo hèn, cũng chẳng phải cuộc sống vô dụng ’ (Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 5). Bảy thánh sản[117] thuộc loại đó ta đă chứng đắc; v́ bất kỳ người nào có được những thứ tài sản này th́ chắc chắn không bao giờ các Đức Phật cũng như các Độc Giác Phật có thể gọi người đó là hạng nghèo hèn cùng cực được. Vừa nghe lời đối thoại này, Đế thích liền từ biệt ông ta, c̣n đang trên đường[118]đi tới trước sự hiện diện của Đức Phật và bạch cho Ngài biết về toàn bộ cuộc đối thoại đó. Thế rồi Đức Phật nói với bệnh nhân phong: “Điều không thể nào xảy ra cho dù có hàng trăm hàng ngàn Đế thích giống như nhà ngươi[119] cũng không thể khiến cho Suppabuddha bệnh nhân phong có thể mở miệng nói rằng, “Đức Phật chẳng phải là một Đức Phật, Phật Pháp chẳng phải là Phật Pháp và Tăng đoàn chẳng phải là Tăng đoàn.” Và v́ thế Suppabuddha đă chạy lại trước sự hiện diện của Đức Phật, sau khi đă kính lễ chào vị Đạo sư[120] và bạch cho Đức Phật biết về những ân đức ông ta đă đạt được, v́ lư do đó có lời nói rằng. “Thế rồi Suppabuddha bệnh nhân phong, người đă thấu triệt Phật Pháp chứng đắc Phật Pháp [121]v.v…” về điểm này: Là người đă chứng kiến Phật Pháp (diṭṭhadhammo): ông ta là người đă thấu triệt Phật Pháp”. v́ Phật Pháp dưới dạng thánh đế ngài đă được thấu triệt. Đây cũng chính là phương pháp được áp dụng cho những từ có liên quan c̣n lại; và về điểm này từ “Phật Pháp”, liên quan đến vấn đề này, chính là cùng một từ[122] giống như từ diṭṭhadhammo [123]. V́ cũng có điều được gọi là dassanaṃ (chứng kiến). Điều này khác với từ ñāṇadassanaṃ (tri kiến). “mà người đă đạt đến Phật Pháp” được nói ra với mục đích loại bỏ điều này; đang khi v́ không biết c̣n có[124] một từ patti (đạt đến được) từ này lại khác với từ ñāṇasaṃpattito (trí và chứng đắc)[125] người nào được cho là đă thẩm định Phật Pháp “với mục tiêu phân định Phật Pháp từ đó. Hơn thế nữa, chính v́ cùng trạng thái một người đă thẩm định Phật Pháp cũng có thể xảy ra thiếu vô tư liên quan đến các pháp đó, “V́ một người sau khi đă hoàn toàn thâm nhập trong Phật Pháp” được nói đến để làm rơ một sự thật là điều đó đă được thẩm định một cách thấu đáo (toàn diện),[126]chính v́ lư do đó ngài đă làm rơ bằng cách giác ngộ trước thánh đế[127] đă đề cập đến ở trên. Đối với trí thánh đạo, như đă thực thi nhiệm vụ biến tri v.v…bằng động tác thấu triệt duy nhất[128]cũng đă được nói đến một cách toàn diện cũng như thâm nhập hoàn toàn vào pháp phải biến tri[129], không giống như trí khác với điều đó, chính v́ lư do đó có lời nói[130] rằng. “Ông là người đă nh́n thấu đáo Phật Pháp”, v́ chính ông đă nhận ra Phật Pháp dưới dạng các thánh đế.” Và cũng chính v́ lư do đó “ngài đă nói, ông ta là người đă thắng vượt nghi ngờ.” v.v…Về vấn đề này: Ngài ‘đă vượt thắng nghi ngờ”. Do mối nghi ngờ đó gồm mười sáu điểm làm căn bản và mỗi điểm đó lại có tám điểm khác làm nền tảng[131] cũng giống như một cánh đồng hoang đầy trộm cướp[132] ngài đă vượt qua được chính v́ thế nơi ngài “mọi lời nói thắc mắc đă biến mất”, V́ với ngài câu chuyện thắc mắc diễn ra với những biến cố[133] diễn ra v.v…như vậy những câu hỏi đặt ra như: “Giờ đây, ta quả là vậy sao? Giờ đây ta chẳng phải vậy sao?” đă biến mất, đă bị trừ tiệt. [286] Ngài “chứng đắc niềm tin”, v́ ngài đă đạt đ |