NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BẢN TƯỜNG TR̀NH KHỞI ĐẦU CÔNG TR̀NH BIÊN SOẠN[1]

[1] Con kính lễ Thế Tôn giàu ḷng từ bi. Ngài đă vượt sang bờ bên kia đại dương những Pháp ngài đă giác ngộ. Ngài giảng pháp sinh động, tuy khó hiểu những sâu sắc[2] ngài giảng pháp bằng ḷng tu bi cho chúng sanh.

Con kính lễ Giáo Pháp tối cao, chính pháp đó được Đấng Chánh Đẳng Chánh Giác kính lễ, nhờ có Giáo Pháp đó khiến cho chúng sanh chứng đắc minh và hạnh thoát khỏi cơi thế gian này. 

Con kính lễ Thánh Tăng, vô song phước điền (cụ thể là Tăng đoàn đó) chứng đắc nhiều ân đức đặc biệt về giới đức v.v…quư ngài được thiết lập thánh đạo và thánh quả.

Toàn bộ[3] chú giải Phật Tự Thuyết đó, đă được người luôn t́m kiếm hạnh phúc tha nhân đối với Tam bảo, làm nguồn mạch (đă giảng dạy) chứng đắc chánh quả[4] thanh tịnh, nhờ các vị Đại Hiền Triết (Rishi) mà toàn bộ chú giải Phật Tự Thuyết đó đă được kết hợp thành một khối duy nhất bằng cách duyệt xét lại việc biên soạn rồi được các vị duyệt pháp đọc tụng lại dưới tiêu đề là “Phật Tự Thuyết (Udāna)” được trang điểm bằng những đoạn kệ khởi sanh nhờ những trạng thái phỉ lạc, làm sáng tỏ[5]  được hoàn toàn  cả t́nh trạng cảm xúc[6] hay cảm hứng[7]của vị chiến thắng pháp.

Cho dù đối với tôi việc chú giải ư nghĩa Phật Tự Thuyết là điều khó khăn gay go, qua thực tế đây chính là một vấn đề[8] cần được các vị có trí tuệ[9] sâu rộng lao ḿnh  vào công việc này, (tuy nhiên) v́ tôi đă rơi vào mọi hoàn cảnh mọi trở ngại đă được gỡ bỏ thông qua ánh sáng nơi bất kỳ công đức nào  đă được phát sanh nhờ vào việc kính lễ Tam Bảo này.

[2] Và giáo lư của Bậc đạo sư (Đức Phật), cùng với tập chú giải vẫn c̣n tiếp tục tồn tại, và việc chú giải và cắt nghĩa[10] những khoản giáo lư đó tức là ācariyas tiền kiếp vẫn c̣n đứng vững.

Chính v́ thế sau khi đă lao vào nghiên cứu dựa vào cùng một[11] [giáo lư] đó, tôi sẽ bám chặt vào cùng một phương pháp của các vị chú giải cổ xưa, cũng như dựa vào năm Bộ Kinh.

Và không đi ngược lại với ư kiến của các vị trụ tŕ trong Đại Thiền Viện là những ư kiến tinh luyện, rơ ràng và cũng là một cách giải thích ư nghĩa hoàn toàn bí hiểm.

Tôi cố gắng theo khả năng cho phép tạo ra một bài chú giải ư nghĩa Phật Tự Thuyết này không lạc ra ngoài ư nghĩa đă được liên tục truyền lại cho chúng ta.

Chính v́ thế, thưa các vị kính mến, xin chấp nhận ư nghĩa cũng như chính tôi đă chấp nhận đang khi t́m kiếm bản chất tồn tại vĩnh cửu Phập Pháp đích thực được sắp xếp trong tập Phật Tự Thuyết đó.

Về vấn đề này:

Udāna (Udāna): một tập Udāna hiểu theo nghĩa nào đây? Hiểu theo nghĩa udānana[12] (đột ngột tăng tốc[13]). Điều ǵ lại mang tên là Udāna [14]? đây là việc công bố chính thức (Udāhāro[15]) khiến khởi sanh do cảm xúc v́ sung sướng. Do [16] bất kỳ đặc tính nào có thể đo lường được như dầu mỡ v.v…, mạn (māna)[17] không thể được coi như là điều ǵ đang trào dâng và dư thừa[18] để rồi lại trào ra, giống như nước trong một chiếc đầm không thể nhận ch́m bất kỳ điều ǵ, giống như một trận lụt. Chính v́ thế đây là việc công bố đặc biệt được thực hiện bất chấp có hay không có những người chấp nhận,[19] v́ nó tuôn trào ra ngoài thông qua ngữ môn sau khi không thể nán lại trong ḷng được nữa, giống như bất kỳ sự thừa mứa bùng nổ trong tư tưởng[20] làm xuất hiện thông qua việc cảm xúc v́ sung sướng, nội tâm[21] không tài nào có thể cầm lại được, và được thốt ra như là một Udāna. cách diễn tả t́nh cảm[22] này cũng được áp dụng[23] trong trường hợp Udāna cho nổi lên thông qua Dhamma-shock. Ở một số trường hợp th́ Udāna xuất hiện bằng việc biên soạn những đoạn kệ. Một vài trường hợp khác lại xuất hiện bằng văn vần. Tuy nhiên, những ǵ được thốt lên, trong tuyệt đại đa số trường hợp đều mang dấu ấn đặc biệt của Udāna (aṅga) được đề cập đến trong các tập chú giải như (một kinh tạng) đi kèm với một vài đoạn kệ bao gồm trí tuệ về một số hoàn cảnh kèm theo là lời hoa mỹ xảy ra tại đó[24],” v́ chủ yếu, Phật Tự Thuyết được công bố nhờ việc biên soạn các đoạn kệ và khiến nổi lên niềm vui và những lời ngọt ngào. Cho dù những ǵ c̣n lại[25] như, “hỡi các vị Tỳ khưu, có xứ chẳng có đất cũng chẳng có nước[26] (Ud 80) v.v… “người nào làm tổn thương đến các thọ tạo ước mong hạnh phúc” (Ud 12) và “Nếu như nhà ngươi sợ đau khổ (dukkha,) nếu như đau khổ (dukkha) lại gây khó chịu cho nhà ngươi[27]” (Ud 51) v.v…th́ cũng có thể chấp nhận được. Những ǵ c̣n lại gồm ba loại[28] khác nữa đó là những ǵ chính Đức Phật toàn tri công bố. Những ǵ do vị Độc Giác Phật (Paccekabuddhas) và những ǵ các vị Thinh văn đệ tử công bố. Về điểm này, những ǵ do các vị Độc Giác Phật công bố [3] được truyền lại cho chúng ta trong tập Kinh Khaggavisāasutta theo cách như sau:

“Bỏ sang một bên chiếc gậy, mọi chúng sanh liên quan, không gây phản khán[29] bất kỳ một ai trong số này” (Sn 35) và v.v…[30]; trong khi đó những ǵ các thinh văn đệ tử công bố cũng là những ǵ được truyền lại cho chúng ta trong tập Trưởng Lăo kệ (Theragāthā) theo cách như sau:

“Ta đă từ bỏ hết tham dục, đă đoạn trừ tận gốc hết các sân hận, đoạn trừ hết các si mê; ta đă trở nên tươi mát, nibbuta” (Thag 79) và v.v… và trong Trưỡng Lăo Ni Kệ (Therīgāthā) theo cách như sau:

“Ta đă thu thúc thân, khẩu và ư; đă nhổ bức mọi ái dục đến tận gốc rễ, ta đă trở nên tươi mát, nibbuta. (Thig 15) và v.v…[31] nhưng những Phật Tự Thuyết (Udāna) các vị Trưởng lăo Tăng và Ni này không phải chỉ là các Phật Tự Thuyết mà thôi – hơn nữa, những Phật Tự Thuyết này c̣n là tiếng sư tử gầm. Những Phật Tự Thuyết nào do các thần linh như  Thiên Chủ (Sakka) v.v… công bố bằng cách, “Ôi! quả một cuộc bố thí lớn lao! cuộc bố thí tối thượng đă được thiết lập nơi Kassapa!” v.v… (Ud 30) và những Phật Tự Thuyết nào do con người như vị Bà la môn Ārāmadaṇḍa [32] v.v…công bố bằng câu “Namo tassa Bhagavato” (con đem hết ḷng làm lễ, kính lễ đức Bhagavāto) v.v…(A I 67), đang khi vẫn c̣n có các Phật Tự Thuyết[33] được kết hợp chặt chẽ trong ba lần kể lại, không phải là những Phật Tự Thuyết được hiểu hàm ư trong văn cảnh hiện tại là những ǵ do chính Đức Chánh Đẳng Giác công bố [34], đă được cấu thành chính lời vị Chiến Thắng[35] - những Phật Tự Thuyết  Đức Thế Tôn đă đề cập đến và ngài cũng đă khẳng định là tập “Udāna" khi ngài phân loại và giải thích Phật Pháp gồm chín chi[36] - đă được gộp lại ở đây theo yêu cầu của cách chú giải hoàn hảo. V́ chỉ có các Phật Tự Thuyết này được kể lại do những vị duyệt xét lại Phật Pháp được coi như là “Udāna". Hơn thế nữa, điều khiến cho tập Kinh này xuất hiện nhờ vào một “Udāna" do chính Đức Phật dưới gốc cây Bồ Đề,[37] đă được làm sáng tỏ nhờ rất nhiều đoạn kệ bắt đầu với, “do vô số lần tái sanh trong ṿng luân hồi” (Dhp 153tt) và đó lại là những đoạn kệ bao gồm Phật Tự Thuyết (Udāna) bắt buộc dành cho hàng trăm[38] hàng ngàn các vị Chánh Đẳng Giác phải coi đó như đă được kể lại do các vị duyệt xét lại Phật Pháp trong tập Pháp Cú Kinh (Dhammapada) v́ họ đă không thành công để sưu tập lại việc duyệt xét lại trước đó trong phạm vi Phật Tự Thuyết (Udāna) Kinh điển[39], có một thực tế đó là chỉ ở vào giai đoạn[40] sau này Đức Phật mới diễn giải về kho tàng Pháp bảo[41]. Tương tự như vậy việc công bố đó bao gồm một Phật Tự Thuyết (Udāna). Như sau. “Thật sự,  Koṇḍaññā đă am hiểu; thật sự, Koṇḍaññā đă am hiểu”[42] (Vin I 12; S v 424) – việc bùng nổ[43] tiếng động đó, do chính Đức Phật công bố, điều đó có khả năng[44] công bố cho cả các vị thần linh lẫn con người xuyên suốt mười ngàn ta bà thế giới, lại không được các vị duyệt xét lại Phật Pháp đọc tụng trong các Phật Tự Thuyết (Udāna) kinh điển; hoặc do không được pravrti hay nivtti[45] thể hiện ra, không giống như lời công bố bắt đầu với “ Khi chắc chắn điều này xuất hiện” (Ud I); (v́ lời công bố có liên quan đến Koṇḍaññā) duy chỉ [4] là một lời tuyên bố, khởi xuất từ niềm vui và lời hoa mỹ, gồm căn nguyên nhân việc duyệt xét lại bản chất kết quả chính công việc lao nhọc trước kia của chính ngài, liên quan đến một thực tế là thánh đạo làm thành một phần Phật Pháp chính ngài đă đạt đến được, theo như cách thức ngài đă diễn giải. Trước tiên toàn bộ những Sāvakas nhờ vào vị Trưởng lăo này ngay tại tột đỉnh của giáo lư thuộc Dhamma-cakkappavattanasuttant[46] (Vin i 10tt; S v 420 tt) do giống nhau theo bản chất đối với lời công bố bắt đầu với “thực sự vào một dịp nào đó các vị Tỳ khưu đă vượt thắng tôi” (#  Trung Bộ Kinh i 124[47]) được coi như có được chính căn nguyên nhân là việc duyệt xét lại cách tu luyện chính xác về phía mỗi vị Tỳ khưu riêng lẻ vào chính thời điểm như thế khi Ngài vừa mới giác ngộ[48].

Giờ đây chính cùng một Phật Tự Thuyết (Udāna) này giống như Tam Tạng, tức là Tạng Luật, Tạng Kinh[49] và Tạng Vi Diệu Pháp, về Tạng Kinh gồm có năm bộ Kinh Pāli (Nikāya) tức là: Trường Bộ Kinh, Trung bộ Kinh, Tương ưng Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, Tiểu Bộ Kinh, lại thuộc về Tiểu Bộ Kinh, (và) giống như chín chi của giáo lư Phật Pháp tức là, Kinh Phật, những pha trộn giữa thơ và văn xuôi; cách chú giải các kệ, Phật tự thuyết, Phật thuyết như vậy và Kinh Bản sinh các hiện tượng có trước (tiền lệ) và các hợp tuyển chính là sự duyệt xét xem như là Phật tự thuyết[50] đang khi với tám mươi tư ngàn pháp môn được công bố như trên do kho tàng pháp bảo, tức là.“Tám mươi hai ngàn pháp môn tôi nhận được từ nơi Đức Phật, hai ngàn pháp môn từ nơi các vị Tỳ khưu[51] tám mươi tư ngàn pháp môn này chính là Phật Pháp được chuyển động” (Thag 1024).

Đây là một cách duyệt xét lại bao gồm một số ít những pháp môn giống hệt như nhau.

C̣n số các chương: có cả thảy tám chương, tức là: chương Giác ngộ, chương Mucalinda, chương Nanda, chương Meghiya, chương Soṇa chương mù bẩm sanh, chương tiểu phẩm và chương những cư dân làng Pāali; c̣n về các Kinh đây là một cuộc duyệt xét lại bao gồm chín mươi lăm đoạn kệ lại gồm có một Phật Tự Thuyết (Udāna); c̣n về các đoạn tụng, có tới tám chương rưỡi kinh tụng, c̣n đối với giáo lư liên tục trong kinh Bồ Đề có một giáo lư liên tiếp về một câu hỏi3 bằng cách diễn giải Phật Pháp liên tiếp về một câu hỏi4 trong kinh Suppavāsā có hai giáo lư liên tiếp và theo Kinh Phật đó có một giáo lư liên tục và một giáo lư trước đó.[52] Đang khi đó trong mỗi kinh c̣n lại cũng gồm các kinh c̣n lại, một giáo lư liên tục bằng cách….như vậy xét một cách toàn diện có một lần duyệt xét với hai mươi ngàn từ cộng với hơn một trăm từ, ngoài ra đối với các yếu tố kệ có tám ngàn[53] cộng với bốn trăm hai mươi ba ngoài ra. [5] Đang khi đó liên quan đến các từ, có sáu mươi ngàn ba trăm tám mươi hai từ cộng với bảy ngàn thêm vào. V́ lư do đó, việc duyệt xét này được nói đến  như sau đây:

“Liên quan đến bố cục th́ chính xác có đến tám chương Kinh Phật, tám chương đang khi đó Phật Tự Thuyết (Udāna) có chín mươi lăm kệ được thể hiện; và về kích cỡ, có tới tám chương rưỡi thuộc dạng kinh tụng cũng như vậy Phật Tự Thuyết (Udāna) có tám giáo lư liên tiếp cộng với một ngoại lệ. Đang khi nhận thức rơ có thể chỉ ra hai mươi mốt ngàn một trăm từ được tính trong Phật Tự Thuyết (Udāna). Đang khi với các từ trong các câu kệ:

Ngài có thể chỉ ra4 các từ này5 lên tới tám ngàn cũng như bốn trăm hai mươi ba từ, c̣n đối với Phật Tự Thuyết (Udāna) đang khi Phật Tự Thuyết (Udāna) có tới sáu mươi bảy ngàn ba trăm tám mươi hai từ được mọi người biết đến.Tám chương bắt đầu với chương Giác Ngộ, Kinh Giác Ngộ là kinh đầu tiên trong số các Kinh, đang khi đó kinh này bắt đầu với nguồn[54] tư liệu là, “Chính v́ thế tôi đă nghe điều này” v.v… Trưởng lăo Ānanda thốt lên trong đại hội I. Tuy nhiên, liên quan đến đại hội lần đầu tiên này một báo cáo cũng đă được ghi trong Luật Tạng, tuy nhiên, việc kể lại đại hội thứ nhất đă được gộp trong một bản văn trong Luật Tạng2; nhưng do bất kỳ3 việc tường tŕnh lịch sử nào về điều này, phải được đưa ra v́ lợi ích tài khôn khéo, liên quan đến nguồn gốc văn từ cũng được khẳng định y hệt như đă được khẳng định trong tập Sumagalavilāsini4 Tập chú giải về Trường Bộ Kinh, như là5  tôi đă đuợc nhận thức tầm quan trọng thái độ tượng tự đă đề cập ở đó 69.

 

-ooOoo-

[1]. Cách chú giải theo bản văn tiếng Miến là ganthārambhakathā; bản văn xuất bản bằng tiếng Tích Lan (Sinhale) và bản văn tiếng Thái lại bỏ qua không dịch.

 [2]. Nipuagambhīravicitranayadesana là cách giải thích theo bản văn xuất bản bằng tiếng Tích Lan (Sinhale), bản văn tiếng Miến và bản văn xuất bản bằng tiếng Thái đối với bản văn nipuagambhīravicitranayadesana. Trong Bản dịch chú giải Thiên Cung Sự 3 tôi cũng đă dùng những từ này theo yêu cầu của ngài N.A. Jayawickrama được coi như là hai Bahuvrīhis bổ nghĩa cho nātha, tức là rất khó hiểu và mang ư nghĩa sâu xa, là cách diễn giải một phương pháp sinh động, nhưng giờ đây nghĩ đến việc giải thích hiện tại. Cho đến nay, cũng được chấp nhận trong Ngạ Quỉ Sự  3, h́nh như (một cách giải thích như vậy cũng được t́m thấy trong bản dịch tiếng Thái); nói cách khác, từ ghép này rất có thể cũng được phân tích là “con người có giáo lư khó hiểu, sâu xa với một phương pháp giải thích sinh động” các câu kệ mở đầu này nên được giải thích chung với các nhận định kết luận trong tập chú giải về Phật Tự Thuyết  436.

[3]. Tôi đă sắp xếp lại thứ tự một số đoạn kệ theo cách khác để dễ hiểu trong khi dịch.

[4]. Suddhāpadānena; chú giải về Thí Dụ Kinh, tập chú giải Trưởng Lăo kệ 133 về tập Truởng lăo kệ, như kết quả chứng tỏ là, Đức Phật đă khởi xuất trong nhiều bản Tự Thuyết khác nhau về việc ư thức được các thành tích siêu nhiên nơi tha nhân.

[5]. Bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale), bản văn tiếng Miến và bản văn tiếng Thái đều giải thích là paridīpana đối với bản văn padīpana.

[6] Dhammasaṃvega; saṃvega  được xác định trong Thiên Cung Sự (Vv) 213 là savego nāma sahottappa ñāa (có nghĩa là hiểu biết về một số hoàn cảnh) đi kèm theo với ước muốn được lùi bước khỏi chỗ đó. Trong khi đó tập Chú Giải Tiểu Bộ Kinh 235=  Thanh Tịnh Đạo 135 lại đưa ra tám chứng cứ đối với từ savega đó là sanh, lăo, bệnh và tử, cộng với dukkha (đau khổ) nơi các hiện trạng hư mất, và rằng đau khổ bắt nguồn từ một chu kỳ cho dù là quá khứ, hiện tại hay tương lai; một điều rơ ràng là bốn hiện trạng đầu tiên (nếu ta gộp cả sanh của Rāhula) lại tạo thành bốn cảm xúc khiến cho Đức Phật phải xuất gia đi tu (về điều này cũng đọc thêm Chú Giải về Phật Tự Thuyết  21, 257 dưới đây) cho dù Ñāamoli (trong bản dịch  Thanh tịnh đạo tr. 140; MR&I 269) lại dịch savegavatthūni là “những cơ sở tạo ra động tâm” Pe Maung Tin ( Thanh Tịnh Đạo 156) lại coi là đối tượng của xúc động” cả hai cách giải thích khiến tôi ngạc nhiên v́ cả hai đều quá yếu. V́ chỉ một ḿnh từ vega được sử dụng trong văn cảnh đó lại ám chỉ một điều ǵ đó xảy ra th́nh ĺnh và mạnh mẽ giống như nọc độc một con rắn mổ đă tạo ra một cú chí tử (chú giải về Ngă quỷ Sự (Pv-a) tr. 62. Chú giải Thiên Cung Sự  308tt) khi từ này có thể dịch là “cú đấm choáng váng” (jolt) chính v́ vegena thường được coi như là một mặt trăng sau, chúng ta cho rằng một Phật Tự Thuyết (Udāna) (đa số trường hợp) lại là lời công bố nổi lên nhờ vào cảm hứng v́ sung sướng (pītivega) hay thông qua niềm vui sướng và trạng thái phỉ lạc (pītisomanassa), nhưng thỉnh thoảng lại là kết quả của một cú sốc  Phật Pháp, một số người có thể thắc mắc tại sao tôi lại dùng từ “cú sốc” để dịch từ saṃvega – thí dụ như Tỳ khưu Boddhi, lại muốn tôi dịch là “Cảm hứng  Phật Pháp” ở đây (chính v́ ngài cũng không đồng ư cách giải thích của tôi về từ “euphoria = trạng thái phỉ lạc” để dịch từ somanassa); trong khi đó N.A Jayawickrama trong phần biên tập lại cuốn chú giải Thiên Cung Sự  cũng đă đề nghị dùng từ “hăng hái = fervour” có lẽ thích hợp hơn với từ saṃvega nhưng h́nh như đối với tôi chẳng có điều ǵ thích hợp hơn là “hiện trạng phỉ lạc” và “cảm xúc” có thể biểu lộ rơ t́nh cảm đối với những Phật Tự Thuyết (Udāna) này. Tôi dịch Dhammasaṃvega là “cảm xúc Phật Pháp”, v́ tôi không chắc chắn làm sao có thể giải quyết được từ ghép này; nhưng nếu ta coi điều này chỉ rơ điều ǵ chúng ta thường cho là “một cảm xúc trong hệ thống”, rất có thể chúng ta không đi quá xa điều muốn ám chỉ ở đây.

[7] . Xin đọc chú giải Phật Tự Thuyết 389 dưới đây

[8]. Tôi đoán là Tassa ở đây muốn nhắc đến “ Phật Tự Thuyết (Udāna)" tại sao Woodward ở đây lại cho là chú giải Thiên Cung Sự lại giải thích là Tassāha là điều tôi không rơ, một chú thích h́nh như đúng chỗ hơn đối với hai đoạn kệ sau này.

[9] . Chú giải những điều từ bỏ tương tự như vậy trong chú giải Tiểu Bộ Kinh 11 và Thanh Tịnh Đạo tr. 522 tt.

[10]. Vinicchayo; hay là học thuyết, tín lư, ư kiến, phán quyết v.v…

[11]. Avalambitvā ogāhetvāna; ư nghĩa được nhấn mạnh ở đây là việc lao vào điều ǵ đó (như là nước chẳng hạn) cùng lúc đó treo trên một sợi dây an toàn ở trên – để giải thích điều này đơn giản chỉ là lao vào cùng với (có nghĩa là, các giải thích của trưởng lăo tiền kiếp) sự hỗ trợ” điều này không thể đưa ra hết cách tưởng tượng.

[12] . Bản văn tiếng Miến giải thích là udānanaṭṭhena (Ce lại cho là udānanatthena) trong bản văn lại ghi là udānatthena, bản văn tiếng Thái lại ghi là Udānaṭṭhena.

[13] Từ Udāna theo nghĩa đen là “thở dốc lên” cũng được dùng để chỉ kẻ nào có năm hơi thở sống c̣n nổi lên từ cổ họng và nhập vào đầu, hai từ tiếng Anh có nghĩa sát hơn được áp dụng ở đây rất có thể là “tính sôi nổi” và “sự sục sôi” nhưng không may từ  đầu lại có nghĩa như là “bộc phát” “thét lên” “rống lên” (và ở một mức độ kém hơn, chính là chất lượng được nói lên đề cập đến ư nghĩa phủ định ở đây. Việc chọn “các đoạn kệ nâng cao” trong MLS I 171 lại đề nghị điều hoàn toàn trái ngược với điều được phủ định ở đây, đây có thể là tựa đề Woodward đă chọn để gọi các “Đoạn Kệ nâng cao” (Verses of Uplift) trong khi đó Jayawickrama lại gọi là “đoạn kệ vui mừng” (mở đầu tr. 15) có lẽ hơi yếu một chút.

[14].  Udāna c̣n  bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) lại ghi là  Udānana

[15]. Từ ud+ā +h nghiă là giơ lên; tự điển Pāli-Tích Lan (Sinhale) là một thành ngữ rất thông dụng là nâng lên, hay đóng lại

[16].  Về điều tiếp theo, tự điển Tích Lan (Sinhale)  Chú Giải Trường Bộ Kinh (DA)  140tt = MA ii 198- SA I 60 = Chú Giải Tăng Chi Bộ ii 139tt = iii 315

[17]. Māna;  bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) ghi là māa, bản văn tiếng Thái ghi là pamāa. Māna là một dụng cụ đo lường không rơ kích cỡ được cho là bằng tám nāis, với một nửa māna hay bốn nāis th́ bằng một tumba (J I 468) ngược lại với doa và rỏ nói đến trong tập  chú giải Ngă Quỉ Sự. Có điều thú vị là bản văn tiếng Thái lại đưa ra một từ Khmer là nāi

[18]. Avaseko; không thấy ghi trong tự điển Childers hay tự điển Pāli-Anh (PED). Tự điển chú giải Pāli (CPD)  lại đưa ra nghĩa là “tuôn trào” mà không kèm theo giải thích ǵ thêm.

[19].  Tự điển Tích Lan (Sinhale)-Pāli chú giải về Phật Tự Thuyết tr. 389 dưới đây.

[20]. Vitakkavipphāra; hay rất có thể là “sự tuôn trào ư tưởng” – Cp cũng đưa ra chú giải về Phật Tự Thuyết 4 dưới đây có liên quan đến âm thanh. Theo tự điển Pāli-Anh (PED), vipphāra có nghĩa là “khuyếch tán, toả khắp, trải ra”, nhưng đây lại bỏ qua một sự thật là nguồn gốc từ sphar lại có nghĩa là run rẩy và rung rung, SED có ghi lại những ư nghĩa đó như là “tiếng tưng tưng của dây cung” (sv visphāra) và “một cảm xúc”  (sv sphāra) chính v́ thế Vitakkavipphāra h́nh như lại có nghĩa là một điều ǵ đó na ná với kích thích tâm hay ngạc nhiên và ít chính xác hơn được xác định “suy nghĩ lớn tiếng” v́ câu chuyện đầu tiên trong hai câu chuyện cho thấy ư nghĩa này trong  Chú Giải Tăng Chi Bộ ii 269tt liên quan đến một người nhắc lại điều ǵ hắn dự tính đề nghị với nhà vua và các quan thừa tướng của ngài, dựa trên cơ sở của một người nào khác, cũng nghe được cùng một điều như vậy, tiên đoán là ngài sẽ thành công. Giống hệt như câu chuyện thứ hai ghi lại một chi tiết trong đó một người nọ nghe thấy một vị Trưởng lăo tự hỏi tại sao một người đàn bà nào đó không nh́n thấy ḿnh khi tụ họp lại để khất thực, liền suy ra rằng trong ngôi làng câu chuyện diễn ra. Cách giải thích như vậy với một tuyên bố đă đề cập đến trước đó trong chú giải Trường Bộ Kinh (DA)  887 = chú giải Tăng Chi Bộ ii 269 đă giải thích vitakkavipphārasadda như là một tiếng động, bằng cách suy nghĩ to lên, về phần người nào nói bập bẹ khi ngủ hay khi lười biếng, với một đoạn Kinh điển được b́nh luận ở đây, cũng như văn bản hiện tại trong đó kể lại Đức Phật nghĩ lớn tiếng lên khi ngài làm khởi xuất một Udāna. Tuy nhiên ở nơi khác, từ này lại được giải thích theo nhiều cách như là một “âm thanh cố ư” (Dial iii 99) “một lời thốt ra một cách thông minh” (GS i.154) và “cách toả sáng của cách suy nghĩ lúc ban đầu” (P Contr. 240) chính v́ vipphāravā vitakko được coi như là “cách suy nghĩ lúc ban đầu th́ có cảm xúc” toàn bộ những điều này h́nh như đối với tôi đều sai; trong khi đó Woodward trong GS I 154 n 6 lại hiểu lầm các câu chuyện ở trên khi ông ta khẳng định “Comy. đựơc coi như là một âm thanh nghe thấy nơi một người nào đang nói lảm nhảm hay nửa tỉnh ngủ; nhưng câu chuyện kể ngài muốn chứng minh ư nghĩa của một nhận định may mắn. Như vậy tài khéo muốn ám chỉ ở đây là “ xếp cả hai làm thành một”

[21] .Cả bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale), tiếng Thái và tiếng Miến đều giải thích antohadayaṃhadayaṃ; tự điển Pāli-Anh (PED) liệt kê hadaya là giống đực, nhưng tự điển Childers và tự điển Anh-Tích Lan (Sinhale) đều ghi là hdaya  cả hai đều cho là vô tính, như ở đây điều này cũng khá rơ ràng.

[22] . Ākāro; tự điển chú giải Pāli (CPD) đă trích dẫn đoạn này làm thí dụ cho từ ākāra (3), tức là, xuất hiện, h́nh dạng, h́nh thái, sắc mặt lại không thể đưa ra được một cách giải thích khác về ghi chú tiếp theo. Tuy nhiên h́nh như đây chỉ là một ví dụ về  ākāra (1) tức là cách chỉ định một t́nh cảm bằng cử điệu hay cử động –  tự điển Anh-Tích Lan (Sinhale) ghi là ākāra cũng đă đưa ra một danh sách các ư nghĩa như là “cử chỉ bên ngoài” và “cách diễn tả bằng bộ mặt” (như là một cách đưa ra một manh mối cho cách bố trí tâm)

[23]. Cách giải thích labbhate được bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale), tiếng Miến và tiếng Thái giải thích cho từ labhate.

[24] Ở đây Dhammapāla rơ ràng đă ám chỉ một đoạn trong phần mở đầu 28 =  Chú Giải Trường Bộ Kinh (DA) 24 = MA ii 106 = Chú Giải Tăng Chi Bộ iii 6 =  chú giải Xiển Minh I 270 = chú giải Bộ Pháp Tụ (Asl) 26 = Gandhavaṃsa 57 (JPTS 1886) trong đó Phật Tự Thuyết (Udāna), được coi như là chín chi giáo lư (aga), tương đương với tám mươi hai kinh, tức là somanassañāamayikagāthāpaisayuttā dve asīti suttantā udānan ti veditabba. Một số người – td. K.R. Norman. Văn chương Pāli Wiesbaden xuất bản năm 1983. tr. 61; bách khoa Phật Giáo I 617; và (ám chỉ cả) Jayawickrama, phần mở đầu. 101 n 5 – đă coi đoạn này có trong các tập chú giải của Buddhaghosa tương đương với Phật Tự Thuyết (Udāna) hiện nay với từ aga mang cùng tên, cho dù ta có thể biện luận là đây chỉ là một cách giải thích nhiều hơn về lời khẳng định.

[25]. Những ǵ được viết bằng văn xuôi nổi lên thông qua vui vẻ và trạng thái phỉ lạc và những ǵ được nổi lên do kết quả của cảm xúc Phật Pháp đem lại cho dù viết bằng văn xuôi hay văn vần.

[26]. Bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) lại thêm taṃ ’anto dukkhassa là bản văn cũng được gắn tiếp  đầu ngữ “ –pe-”  vào.

[27] . Bản văn tiếng Miến và tiếng Thái giải thích là sace vo dukkham; c̣n bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) lại bỏ qua.

[28].  Evamādi tayida; bản văn tiếng Miến ghi là tayida.

[29]. Aviheṭhayaṃ; bản văn tiếng Shinhe và tiếng Thái lại ghi là aheṭhayaṃ.

[30]. Cp Mahāvastu I 359 cho là:”Toàn bộ các kệ trong tác phẩm Khagaviāa phải được cung cấp thêm ở đây đầy đủ, cụ thể là các đoạn kệ do từng các vị Độc Giác Phật mà Jones (bản dịch Mahāvastu I 305 n 1) có ghi chú thêm: “Kinh Khaggavisāa trong Sn (35-75) chỉ có 41 đoạn kệ mà thôi. Nhưng ở đây lại hàm ư cho là có đến 500 kệ, có nghĩa là đây là con số chỉ các Độc Giác Phật.

[31]. Bản văn tiếng Miến giải thích là ādinā; c̣n bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) và tiếng Thái lại bỏ qua.

[32] Bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) và tiếng Miến giải thích là Ārāmadaṇḍa trong bản văn āraddha, bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) (tiếng Miến vl) ghi là Soṇadaṇḍa.

[33] .V́ được giới thiệu một trong hai trường hợp bằng đoạn văn Udānam udānesi (khiến cho Phật Tự Thuyết (Udāna) này nổi lên).

[34]. Āhacca bhāsitāni: cp MQ I 207 n. 2 và Ñāamoli, Guide 35 n 117/1. Câu này nhiều lần tái xuất hiện trong Chú giải Bộ Pháp Tụ (Asl) 9 nhưng ư nghĩa xem ra không mấy rơ ràng trong bản dịch Expos 11. C̣n āhaccabhāsita v́ một số lư do nào đó tự điển Chú Giải Pāli (CPD) lại đưa ra giải thích là āhaccāni, không được bất kỳ ấn bản nào ủng hộ cả. 

[35]. Theo tự điển Childers th́ Jinavacana là từ đồng nghĩa với Buddhavacana.

[36] . Giống như trong td. Trung Bộ Kinh i 133

[37] .  Chú giải  J i 76

[38] . Bản văn tiếng Miến và tiếng Thái lại giải thích là osatao; bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) lại bỏ qua. Tập chú giải Dhp iii 127 lại giải thích là : anekehi buddhasatasahassehi avijahita udāna.

[39] H́nh như có hàm ư Phật Tự Thuyết (Udāna) đă được kể lại trước Pháp Cú Kinh (Dhammapada), tuy nhiên thứ tự diễn tập trong  Chú Giải Trường Bộ Kinh (DA) 15 lại gợi ư theo thứ tự ngược lại.

[40]. Aparabhāge – có lẽ chỉ là một lời ám chỉ về chú giải Pháp Cú Kinh (Dhp-a) iii 127 cho là: Anekajātisasāran ti ima dhammadesana Satthā bodhirukkhamūle udānavasena udānetvā aparabhāge Ānandattherena puṭṭho kathesi. Bản dịch tiếng Thái lại thay từ aparabhāge bằng từ sagītā, tức là được trùng tụng vào giai đoạn sau này.

[41] . Chú giải Trường Bộ Kinh (DA) 16 = tập khởi đầu 17 cho thấy có sự tranh căi không hiểu các đoạn kệ được nhắc đến ở đây hay các đoạn kệ bắt đầu, “Chắc hẳn, khi nào mọi sự xuất hiện” được đề cập đến trong Chú Giải Phật Tự Thuyết bao gồm lời công bố đầu tiên của Đức Phật Cồ Đàm, một bản Chú Giải Tiểu Bộ Kinh 13 đă cố gắng giải quyết bằng cách chỉ ra cho thấy đó là “đối với biết bao nhiên lần tái sanh nơi ṿng luân hồi”, tuy nhiên h́nh thành đoạn đầu của Buddhavacana, đă có thời chỉ được đề cập đến trong suy nghĩ mà thôi, không có lời công bố cụ thể nào và chỉ được tường thuật lại vào giai đoạn sau này do Ānanda như sau, “ Chắc hẳn, khi nào mọi sự xuất hiện” chính v́ thế được coi như là điều đầu tiên được thực sự công bố. Chú giải  cũng ủng hộ như vậy trong Sv-pt i 30tt. 

[42]. Cũng được trích trong Chú Giải Phật Tự Thuyết 371 dưới đây.

[43]. Vipphāra; chú giải như ở trên.

[44]. Bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) và tiếng Miến giải thích là osamatthao  (bản văn tiếng Thái lại ghi là osamatthaṃ) c̣n  bản văn ghi là osamathao  

[45]. Pavattiyā nivattiyā vā; từ này có nghĩa là có dính líu đến sinh hoạt thế tục và ngược lại, theo đuổi việc tích lũy nghiệp chướng và ngược lại, chính v́ thế có thể giải thích là, “Có dính líu và không dính líu” xin đọc td. G.M. Bailey. Các dữ liệu để nghiên cứu ư thức hệ Ấn Độ cổ đại: Pravtti and Nivtti. Torino. 1985, Chương 1.

[46]. Bản văn tiếng Thái về Sutta.

[47]. Ārādhayisu vata ma bhikkhū eka samaya, bản văn tiếng Miến (và tự điển Chú Giải Pāli (CPD) ghi là svārādheti) lại coi như là một trích dẫn trong Trung Bộ Kinh i 124;  Ārādhayisu vata me bhikkhave bhikkhū eka samaya citta. MA ii 97 giải thích là  ārādhayisū ti gahisu pūrayisu. Đề nghị rằng giải thích của ngài Ñāamoli về đoạn này như sau, “Hỡi các vị Tỳ khưu, đă có một thời khi các vị đă thoả măn suy nghĩ của ta” ( A treasurey of the ’s Words. Ii 8) được cho là dễ chấp nhận hơn “hỡi các Tỳ khưu, các Tỳ khưu của ta đă có thời hoàn tất được điều đó trong suy nghĩ” được t́m thấy trong MLS . i 161.

[48]. Sự nghiệp của Đức Phật được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn ban đầu kéo dài trong hai mươi năm trong đó ngài được coi như trong t́nh trạng mới giác ngộ, tiếp theo là một giai đoạn sau này gồm hai mươi lăm năm sau đó ngài chứng đắc Níp-bàn. Cũng trong chú giải về Phật Tự Thuyết tr.298tt, 425 dưới đây. Việc hàm ư ở đây là cuộc suy tàn của Tăng già được Đức Phật trích dẫn, hay được tiên đoán trước (td. Trung Bộ Kinh i 444tt; A iii 105tt. 108tt; S i 61. ii 208tt. 267 tt) đă chỉ được bắt đầu trong giai đoạn thứ hai trong sự nghiệp của ngài.

[49]. Bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale), tiếng Miến và tiếng Thái đă giải thích là Suttantapiṭakaṃ thay cho Suttapiṭakaṃ trong bản văn.

[50]. Udānasagaha; bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) ghi là Udānaga có nghĩa cánh tay chính là Phật Tự Thuyết (Udāna)  trong Chú Giải Phật Tự Thuyết 2 ở trên.

 2. Theo Vin ii 285 tt và chú giải Trường Bộ Kinh (DA) 13tt, Mahākassapa trong đại hội lần thứ nhất đă chất vấn Upāli về luật (Vinaya) và rồi lại chất vấn Ānanda về Phật pháp. Chính v́ thế “Pháp môn” (dhammakkhandha) ở đây ta cũng nên hiểu ngoại trừ Vi diệu pháp là điều c̣n đang gây ra một số tranh căi, một số các trường phái phương bắc lại cho là thực tế chính ngài Mahākassapa đă giải thích điều này. Thêm vào đó, chúng ta cũng biết được trong chú giải Trường Bộ Kinh (DA) 15 là Trường Bộ Kinh cũng bao gồm các bản văn hiện nay đă được sáp nhập vào Tiểu Bộ Kinh trong Tạng Vi diệu pháp, đang khi đó Trung Bộ Kinh cũng đă bao gộp những bản văn này vào tạng Kinh Phật, mà sau này h́nh như căn cứ vào đó Dhammapāla đă coi đó như một nguyên tắc.

3.  Paiññātesu có nghĩa là được chấp nhận là đúng, được phê chuẩn

4 .  Gaṇhiṃ Thag-a là uggaṇhiṃ, được lượm lên

[51]Như thể Trưởng lăo Sāriputta.v.v..Thag-a

2 . Nhưng được đề cập đến trong chú giải Phật Tự Thuyết 273 ở trên giống như trong Đại phẩm Kinh (Mahāvagga), hay trong chương vĩ đại (Great Chapter).

3 .   Bản văn tiếng Miến giải thích là ekānusandhi, bản văn tiếng Thái giải thích là eko anusandhi, c̣n bản văn ghi là eka anusandhī; bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale) lại ghi là ekā anusandhi; tự điển chú giải Pāli (CPD) liệt kê anusandhi là giống đực, tự điển Pāli Anh (PED) là giống cái, điều không chắc chắn như vậy về giống chắc có lẽ là do nhiều cách giải thích khác nhau. Bản văn tiếng Tích Lan (Sinhale), tiếng Miến và tiếng Thái đều thống nhất như vậy, tuy nhiên trong phần giải thích anusandhi thuộc số ít như vậy; trái lại Woodward đều in toàn bộ thành anusandhī cả.

4 . Pucchānusandhi; chú giải Trường Bộ Kinh (DA)  122tt đă phân biệt được ba loại anusandhi tức là (1) pucchānusandhi, là những ǵ diễn giải về phần Đức Phật tiN