NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

CHÚ GIẢI LỊCH SỬ CHƯ PHẬT

                                                              Nguyên Tác: BUDDHAVAMSA
                                                 Bản Pāli Ngữ: BUDDHATTA THERA
                                                Bản Dịch Anh Ngữ: I.B. HORNER
                                               Bản Dịch Việt Ngữ: TỲ KHƯU THIỆN MINH

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XXII. CHÚ GIẢI ĐỨC PHẬT TỔ VESSABHŪ

Và tiếp sau Đức Phật Sikhin vào thời điểm Giáo Pháp của ngài biến mất, tuổi thọ của chúng sanh trong một giai đoạn dài đến bảy mươi ngàn năm, đến giờ lại giảm xuống chỉ c̣n mười năm. Tuổi thọ lại tăng thêm trở lại rồi đến đúng thời điểm một lần nữa lại giảm xuống chỉ c̣n sáu mươi ngàn năm. Thế rồi Đức Phật Vessabhu xuất hiện, tâm của ngài đă chiến thắng và chiếm lănh toàn cơi thế gian, ngài đă tự xuất hiện[73] trên thế gian này và sau khi đă hoàn tất các pháp Ba la mật, ngài đă tái sanh nơi Cơi Trời Đâu Suất. Tịch diệt khỏi cơi đó, ngài đă giáng trần tái sinh trong ḷng Yasavatī đức độ (sīlavatī) là người vợ chính của nhà vua được ái mộ hết mực có tên là Suppatīta đang trị v́ trong thành phố Anupama.[74] Sau mười tháng thọ thai trong ḷng mẹ, ngài Đản sanh ngay trong nơi vui chơi giải trí Anupama. Ngay sau khi được sanh ra ngài đă làm cho chúng sanh hoan hỷ bằng một tiếng Ḅ [75]rống. Chính v́ thế trong ngày lễ đặt tên cho ngài họ đă đặt tên cho ngài là Vessabhū là do ngài đă rống lên tiếng ḅ rống.[76] [248] Ngài đă lưu lại trong hậu cung trong suốt sáu ngàn năm. Ba ṭa lâu đài của ngài có tên là Ruci, Suruci và Rativaḍḍhana.[77] Có đến ba mươi ngàn cung nữ hầu hạ ngài trong hậu cung với hoàng hậu Sucittā đứng đầu.

Khi ngài đă nh́n thấy bốn hiện tượng và một vị hoàng tử được sanh ra có tên là Suppabuddha cho hoàng hậu Sucittā, ngài đă ra đi trên một chiếc kiệu bằng vàng để đến xem khu vui chơi giải trí và, đang khi nhận y cà sa màu vàng do các vị chư Thiên trao tặng, ngài đă xuất gia. Có đến ba mươi bảy ngàn người đă xuất gia theo gương của ngài. Vây quanh với những chúng sanh này ngài đă quyết định thực hiện cuộc phấn đấu khổ hạnh trong ṿng sáu tháng. Vào ngày rằm tháng Visākha ngay trên thị trấn Sucitta ngài đă thọ cơm sữa ngọt do nàng Sirivaddhanā dâng cúng cho ngài, nàng là một phụ nữ có h́nh dáng rất đẹp.

Sau khi đă trải qua một ngày tạm trú trong khu rừng sala. Vào ban chiều ngài đă nhận tám bó bỏ khô do Narinda dâng tặng cho ngài, Narinda là một Long vương, và ngài đă tiến lại gần cây Bồ Đề Sala[78] đi ṿng quanh cây đó, kích cỡ của cây Sala đó cũng có cùng kích cỡ với cây Pāṭalī.[79] Một điều ta cũng cần phải hiểu là cây đó cũng đang trổ đầy hoa quả rất dễ thương. Sau khi đă tiến lại gần cây Sala, ngài đă rải cỏ khô biến thành bồ đoàn rộng vào khoảng bốn mươi cubit. Ngồi trong tư thế kiết già. Ngài đă chứng đắc vô chướng ngại trí[80]. Toàn bộ những vật trở ngại đều đă tan biến hết[81].

Khi ngài đă thốt lên tuyên bố long trọng như vậy và đă trải qua bảy ngày tại đó, đang khi nhận ra việc đạt được các ân đức do chính những người em của ngài là hoàng tử Soṇa và Uttara, ngài đă đi bằng con đường chư Thiên và đáp xuống trong khu vui chơi giải trí Aruṇa gần thành phố Anupama. Khi ngài đă nhờ người canh giữ công viên mời các hoàng tử đến, ngài đă Chuyển Pháp Luân trước mặt họ cùng với đoàn tùy tùng của hai người. Thế rồi đă diễn ra cuộc thấu triệt Pháp hội đầu tiên có tám mươi ngàn mười triệu người tham gia.

C̣n nữa, đang khi Đức Thế Tôn đi dạo một ṿng trong khắp vương quốc diễn giải Giáo Pháp tại nơi đó và đă diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội lần thứ hai có bảy mươi ngàn mười triệu người tham dự. Đó là cuộc thấu triệt pháp hội lần thứ nh́. Trong thành phố Anupama. Ngài đập tan mạng lưới tà kiến, dẹp bỏ được các khẩu hiệu của các người chủ trương ly giáo, dẹp bỏ tính kiêu mạn và tính hăo huyền, nổi lên đề cao Phật Pháp ngài đă thực hiện Phép Song thông trước sự chứng kiến của biết bao nhiêu người đi theo, kể cả chúng sanh lẫn các chư Thiên. Ngài đă làm tươi trẻ lại sáu mươi mười triệu người với rượu thần Giáo Pháp. Đó là cuộc thấu triệt Pháp hội lần thứ ba, do vậy có lời giải thích điều đó như sau:

XXII

1. Trong cùng một đại kiếp Maṇḍa, một vị lănh đạo[82] có hồng danh là Vessabhū, là người vô song, không ǵ địch nổi, đă xuất hiện trên thế gian này.

2. Nhận ra đó là một ngọn lửa cháy rực với lửa tham ái và thuộc chính lănh vực ái dục thế rồi,[83] Ngài đă chứng đắc vô thượng Chánh Đẳng Giác giống như một con voi phá bỏ được các xiềng xích vậy.

3. Khi Đức Phật Vessabhū, vị lănh đạo thế gian, đang Chuyển Pháp Luân, đă diễn ra cuộc thấu triệt Pháp hội thứ nhất có khoảng tám mươi ngàn mười triệu chúng sanh tham gia.

[249] 4. Khi vị trưởng thượng[84] thế gian, một người có sức mạnh vô song, đang thực hiện chuyến du hành vào cơi chư Thiên, đă diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội thứ hai có khoảng bảy mươi ngàn mười triệu người tham dự.

4. Ngài đă thực hiện Song thông đẩy lùi tà kiến cho cả các chư Thiên lẫn loài người gồm khoảng mười ngàn ta bà Thế Giới có cả các chư Thiên lẫn con người tụ họp lại.

5. Khi được chứng kiến những điều kỳ lạ to lớn đến như vâỵ. Khiến cho sáu mươi mười triệu con người lẫn chư Thiên phải kinh ngạc và sửng sốt. Và họ đă đạt đến Giác Ngộ.

2. Trong trường hợp này ngọn lửa cháy rực có nghĩa là toàn bộ Tam giới đều bị nổi lửa thiêu rụi.

2. Lửa tham ái có nghĩa là do tham ái.

2. Lănh vực ái dục: ư nghĩa ở đây là, biết như vậy đây là các lănh vực và cơ hội cần được khắc phục.

2. Giống một con voi phá bỏ được các xiềng xích có nghĩa là: giống như con voi phá bỏ được các gông cùm yếu ớt cây dây leo. Ngài chứng đắc, ngài đạt đến Chánh Đẳng Giác.

5. Có tới mười ngàn có nghĩa là thực sự là mười ngàn.[85]

6. Loài người với các chư Thiên. có nghĩa là nơi thế giới loài người với các chư Thiên.

6. Giác Ngộ có nghĩa là họ Giác Ngộ.[86]

Vào ngày rằm tháng Māgha ngài đă tụng Giới Bổn[87] trước sự hiện diện của tám mươi ngàn vị A-la-hán là những người đă xuất gia trong một lần tụ họp với hai tối thượng nam thinh văn của ngài, là Soṇa và Uttara. Đó là tăng đoàn đầu tiên. Và khi các vị tỳ khưu, lên tới ba mươi bảy ngàn, đă xuất gia cùng với Vessabhū, vị chúa tể trên toàn thể các thế giới, đă lên đường bỏ lại đám đông đàng sau, họ nghe biết rằng Pháp Luân đă được Vessabhū vận chuyển, ngài là bậc Chánh Đẳng Giác. Khi đến thành phố tên là Soreyya họ nh́n thấy Đức Phật Tổ. Ngài diễn giải Giáo Pháp cho họ. Và cho toàn bộ họ được xuất gia theo mệnh lệnh xuất gia, “Thiện lai tỳ khưu”, ngài đă tụng Giới Bổn trong một Tăng đoàn tṛn đủ bốn chi phần.[88] Đó lại là Tăng đoàn thứ hai. Và khi con trai của nhà vua tên là Upasanta[89] đang trị v́ tại thành phố Nārivāhana, vị Phật Tổ cũng đến đó do ḷng từ bi đối với con trai của nhà vua. Khi cậu ta nghe được tin Đức Phật tổ đến thăm, cậu ta đi ra cùng với đoàn tùy tùng của ngài để đón vị Phật tổ. Sau khi đă mời ngài. Tổ chức cho ngài một cuộc Đại thí và nghe giáo pháp của ngài. Cậu ta đă xuất gia, v́ tín tâm của ḿnh. Hội chúng gồm tới sáu mươi ngàn người cũng xuất gia theo gương cậu ta. Cùng với cậu ta toàn bộ những người đó đă chứng đắc A-la-hán. Vây quanh với những người này vị Phật Tổ Vessabhū đă tụng Giới Bổn. Đó là tăng đoàn thứ ba. Do vậy có lời nói về điều này như sau:

XXII

7. Vessabhu, vị đại ẩn sĩ, có ba Tăng oàn gồm những người kiên định đă đoạn tận lậu hoặc, vô tỳ vết, và an tịnh trong tâm.

8. Tăng Đoàn đầu tiên gồm tám mươi ngàn các vị tỳ khưu; tăng đoàn thứ hai gồm tới ba mươi bảy ngàn người[90].

[250]. 9. Tăng đoàn thứ ba gồm tới sáu mươi ngàn vị tỳ khưu là những người đă vượt qua được sợ hăi về già[91] v.v...là các vị đại ẩn sĩ,[92] là chính các người con trai [93]của Đức Phật tổ.

Lúc đó Vị Bồ Tát là vị vua tên là Sudassana, vô cùng dễ thương (paramapiyadassana) trị v́ trong thành phố Sarabhavatī. Khi Đức Phật Vessabhu, lănh đạo thế gian, đă đến thành phố Sarabha và vị Bồ Tát đă lắng nghe Giáo Pháp của ngài. Rồi trong ḷng đă tin tưởng Giáo Pháp đó. Ngài đă chắp tay lại toả sáng trông giống như hai búp bông sen vô tỳ vết. Mười ngón tay chạm vào nhau[94] và đưa lên đầu. Sau khi vị Bồ Tát đă tổ chức cho ngài một cuộc đại thí gồm y cà sa cho Tăng Đoàn Đức Phật lănh đạo. Ngài c̣n cho xây một hương pḥng[95] tại đó làm nơi cư trú cho Đức Phật Tổ. Bao quanh hương pḥng đó là một ngàn thiền viện (vihara) và vị bồ tát đă cúng dường cho ngài toàn bộ những tài sản để diễn giải Giáo Pháp của ngài. Rồi nhà vua cũng đă xuất gia trước sự hiện diện của ngài Phật Tổ. Tṛn đủ những ân đức tu tập đích thực, giống như mười ba hạnh Đầu đà. Thích thú trong việc t́m kiếm những điều giúp đạt đến Giác Ngộ. Ngài đă thoải mái duy tŕ giáo pháp của Đấng Giác Ngộ. Và vị Phật tổ cũng đă thọ kư về ngài, “Trong tương lai khoảng độ ba mươi mốt đại kiếp từ đây trở về sau ngài sẽ trở thành một vị Phật Tổ có hồng danh là Cồ Đàm”. Do vậy người ta nói về điều này như sau:

XXII.

10. Pháp luân đă được đức Phật tổ đó vận Chuyển oai hùng không ǵ sánh nổi. Ta vui mừng khi xuất gia nghe theo Giáo Pháp tuyệt vời của ngài.

11. Vào thời đó ta là một Quí Tộc Sát Đế Lị tên là Sudassana. Sau khi đă thỉnh vị đại anh hùng và tổ chức một cuộc đại thí rất giá trị[96] cho ngài Phật tổ. Ta đă kính lễ vị Chiến Thắng và Tăng oàn của ngài với đồ ăn thức uống và y cà sa.

12. Sau khi đă cúng dường Đại thí cả ngày lẫn đêm không hề suy giảm. Ta đă xuất gia trước sự hiện diện của Đức Phật Tổ Chiến Thắng và đă được tṛn đủ với các ân đức đặc biệt.

13. Được tṛn đủ những ân đức đặc bịêt tu tập chính đáng, gồm những bổn phận và giới đức, t́m kiếm trí toàn tri, ta cảm thấy hoan hỷ trong Giáo Pháp của bậc Chiến Thắng.

14. Sau khi đă đạt đến niềm tin và phỉ lạc, ta đảnh lễ xuống tận chân vị đạo sư[97]. Phỉ lạc dâng trào trong ta v́ mục tiêu Giác Ngộ của ta.

15. Biết rằng ta không có tâm thối chuyển[98] vị Chánh Đẳng Giác đă thọ kư về ta như sau, “Ba mươi mốt đại kiếp kể từ đây người này sẽ trở thành một đức Phật”.

16. Sau khi đă xuất gia rời khỏi thành phố đầy thú vị Kapila....”

17. Khi ta nghe lời ngài thọ kư, ta càng cảm thấy có khuynh hướng trong ḷng. Ta đă nhất quyết tu tập nhiều hơn để chu tất mười Pháp Ba la mật.

[251] Và thành phố vị Phật Tổ đó cư trú có tên là Anupama, tên của vị Quí Tộc Sát Đế Lị, cha của ngài là Suppatīta. Mẹ của ngài có tên là Yasavatī. Soṇa và Uttara là hai tối thượng nam thinh văn của ngài. Upasanta là tên của vị thị giả cho ngài. Dāmā và Samālā là hai tối thượng nữ thinh văn. Cây Bồ Đề là cây Sāla. Thân h́nh của ngài cao sáu mươi cubit. Tuổi thọ của ngài kéo dài sáu mươi ngàn năm. Vợ của ngài tên là Sucittā, con trai của ngài tên là Suppabuddha. Ngài xuất gia trên một cái kiệu bằng vàng. Do vậy có lời nói về điều này như sau:

XXII

18. Anupama[99] là tên thành phố, Suppatīta[100] là tên của Quí Tộc Sát Đế Lị, Yasavatī là tên của mẹ ngài Vessabhū, vị đại ẩn sĩ.

23. Sonā và Uttara là tối thượng nam thinh văn của ngài. Upasanta là tên của vị thị giả cho ngài Vessabhū, vị đại ẩn sĩ.

24. Dāmā[101] và Samālā là tối thượng nữ thinh văn. Cây Bồ Đề của vị Phật Tổ này là cây Sāla[102]

25. Sotthika và Ramma là hai tối thượng cận sự nam; Kāligotamī và Sirimā[103] là hai tối thượng cận sự nữ cho ngài

26. Ngài có chiều cao khoảng sáu mươi ratanas. Ngài trông giống như cột sát tế bằng vàng. các hào quang phát ra từ thân xác ngài giống lửa vào ban đêm trên đỉnh một ngọn núi.

27. Tuổi thọ của vị đại ẩn sĩ kéo dài[104] sáu mươi ngàn năm. Sống lâu đến như vậy ngài đă khiến cho nhiều người vượt qua được bộc lưu.

28. Sau khi khiến cho Giáo Pháp nổi tiếng của ḿnh được phổ biến rộng răi đến như vậy, sau khi đă phân loại đại chúng, và sau khi đă cung cấp con thuyền Giáo Pháp cho chúng sanh, ngài đă viên tịch cùng với các đồ đệ của ḿnh.

29. Toàn bộ những chúng sanh duyên dáng,[105] những cách thức cuộc sống và những cách thức cư xử[106] đă biến mất. Chẳng phải toàn bộ pháp hành đều rổng không cả hay sao?

10. Trong trường hợp này Pháp Luân đă được có nghĩa là ngài đă Chuyển Pháp Luân.

10. Giáo Pháp tuyệt vời có nghĩa là Pháp dành cho các bậc cao nhân[107]

12. Việc xuất gia đă được tṛn đủ với những ân đức đặc biệt có nghĩa là: biết được, tôi đă xuất gia.

13. Bao gồm các bổn phận và giới đức có nghĩa là gồm trong bổn phận và trong những giới đức[108]; ư nghĩa ở đây là:chu tất được mỗi loại công việc bao gồm trong đó.

13. Tôi cảm thấy hoan hỷ có nghĩa là tôi thấy thích thú trong ḷng vô cùng.

[252] 14. niềm tin và phỉ lạc có nghĩa là: đạt đến được niềm tin và phỉ lạc.[109]

14. Tôi Đảnh lễ có nghĩa là tôi đă kính lễ một cách nhiệt t́nh. Th́ hiện tại nên được hiểu theo nghĩa quá khứ.

14. Thuộc về đạo sư có nghĩa là: thuộc về vị Đạo sư [110]ó.

15. Không có tâm thối chuyển có nghĩa là ư tưởng trong tâm không sút giảm.

26. Giống như một cây cột trụ sát tế bằng vàng[111], có nghĩa là: giống như một cây cột trụ bằng vàng[112]

26 Toả sáng ra có nghĩa là tủa ra từ phía này phía kia.

26. Hào quang có nghĩa là những tia sáng từ chính bản chất[113] của ngài.

26. Giống như ngọn lửa vào ban đêm trên đỉnh núi có nghĩa là những hào quang rực rỡ của thân xác ngài trông giống như ngọn lửa trên đỉnh ngọn núi vào ban đêm[114]

28. Sau khi đă phân loại có nghĩa là sau khi đă phân loại có liên quan đến tinh tấn v.v... và liên quan đến nhập lưu v.v...

28. Con thuyền Giáo Pháp có nghĩa là: Sau khi đă cung cấp con thuyền Giáo Pháp được biết đến như là Bát Chánh Đạo v́ lợi ích vượt qua được tứ bộc lưu.[115]

29. Duyên dáng dễ thương có nghĩa là đẹp đẽ dễ thương.

29 Toàn bộ chúng sanh có nghĩa là toàn bộ những con người[116] ư nghĩa ở đây là: vị Chánh Đẳng Giác với Tăng oàn các đồ đệ của ngài.

29. Cách thức cuộc sống có nghĩa là cách sống[117] ở mọi nơi. Đối cách được hiểu theo nghĩa chủ cách.

Người ta nói rằng Đức Phật Tổ Vessabhū đă viên tịch Níp Bàn ngay tại vườn Lộc uyển Khema trong thành phố Usabhavatī và xá lợi của ngài đă được phân tán đi khắp nơi.

Trong một thành phố oai nghi Usabhavatī Đức Phật Tổ Vessabhū, vị chiến thắng mạnh mẽ.

Đă đến không c̣n chấp thủ tái sanh đă lưu lại trong một thiền viện đầy thú vị

Mọi điều c̣n lại trong các đoạn kệ đă rơ ràng.

Đến Đây Kết Thúc Phần Chú giải Biên Niên Kư Sự Đức Phật Tổ Vessabhū.

Cũng kết thúc phần Biên niên kư sự đức Phật Tổ thứ hai mươi hai.

 

-ooOoo-

 

[73]. Vitamanobhū sabbalokābhibhū sayambhū Vessabhū

[74]. BvAB ghi là Anonma.

[75]. Vasabha. Giải thích ba loại Ḅ mộng: vasabha, usabha. Nisabha được đưa ra trong SnA. 40

[76]. Mhvn iii. 246 lại đưa ra một lư do khác về hồng danh của ngài và Mhvn-t I 63 lại c̣n đưa ra một hồng danh khác nữa.

[77]. Vaḍḍhana ghi trong Bv xxii 19

[78]. Chú giải Lịch sử Chư Phật bản tiếng Miến ghi là sālabodhi, BvAC ghi sālavane bodhiṃ

[79]. Xin đọc bản văn tr. 236 và tr. 245 trong đó cho biết kích cỡ của cây Puṇḍarīka cũng bằng với cây Pāṭalī

[80]. Được định nghĩa trong Pts. I 131 tt

[81]. Một kiểu chơi chữ vigatanīvaraṇam sabbamatāvaraṇam anāvaraṇaṇaṃ trong từ ghép thứ hai mata có thể hiểu là chết.

[82]. Nāyako, Bv giải thích là so jino như đựơc lưu ư trong Be, BvAB

[83]. Be, BvCB ghi là tadā, Bv sadā

[84]. Bv. Be jeṭṭha; BvAC như đă được lưu ư trong Be, BvAB là seṭṭha, có nghĩa là tốt nhất.

[85]. Dassahassī ti dassahassiyaṃ

[86]. Bujjhare ti bujjhiṃsu

[87]. Người ta cho là Vessabhū làm lễ Bồ Tát cứ sáu năm một lần, Pháp cú kinh (Dhammapada) iii. 236; xin cũng đọc trong Vin iii 7tt

[88]. Xin đọc bản văn tr. 126, 163, 204, 292, 298

[89]. Xin đọc D ii. 6, Upasannaka, là một vị tỳ khưu

[90]. Có một số lẫn lộn ở đây, Bv Be BvAB ghi là sattatibhikkhusahassa. 70.000 vị tỳ khưu, trong một đoạn kệ: nhưng Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon trong đoạn kệ và BvACB ghi trong văn suôi lại ghi là sattatiṃsasahassa, 37.000

[91]. BvAC ghi là jarādibhayātītānam; Bv-bhayacittānaṃ; Be –bhayabhītānaṃ; BvAB ghi -bhayatītānaṃ

[92]. Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon ghi là mahesino, Phật Tông ghi là mahesinam

[93]. “Tinh thần” có nghĩa là bổn phận làm trai

[94]. Xin đọc bản văn tr.10 một trong các từ ghép dài ở trên Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon giải thích là – vikalakuvalayā - và Chú giải Lịch sử Chư Phật bản tiếng Miến lại giải thích là –vikalakamala-

[95]. Tham khảo trong Divy tr. 333

[96]. Bv omits this line

[97]. Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon ghi là vattitaṃ, Phật Tông ghi là vattayiṃ

[98]. Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon ghi là sutvā, Phật Tông ghi là Sutvāna.

[99]. Phật Tông, Be, Chú giải Lịch sử Chư Phật bản tiếng Miến ghi là Anoma.

[100]. Phật Tông ghi là Supatīta, Jkm 18 Pupphavatika

[101]. Be, Chú giải Lịch sử Chư Phật bản tiếng Miến ghi là Rāmā

[102]. Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon ghi là sālo iti pavuccati, Bv, Be, BvAB ghi là mahāsalo ti vuccati.

[103]. BvAC ghi Kāligotamī Sirimā. Như đă được lưu ư trong Be, BvAB giải thích là Gotamī Sirimā c’eva; Bv Gotamī ca Sirimā.

[104]. Be, BvACB āyu tassa mahesino; Bv āyu vijjati tāvade, tuổi thọ b́nh thường kéo dài

[105]. Be, BvACB ghi là sabbajana, Bv mahājana.

[106] Iriyāpatha, và trong bản văn tr. 108, thường có nghĩa là bốn oai nghi đứng, đi ngồi và nằm.

[107]. Uttarimanussadhamma, đựơc định nghĩa trong Vin iii. 91

[108]. Vattasīlasamāhito ti vattesu ca silesu ca samāhito.

[109]. Saddhāpitin ti saddhaca pti ca upagantv

[110]. Sattharī ti sattharaṃ

[111]. Hema...suvaṇṇa.

[112]. Không được tạo thành do các tận, nhưng xuất hiện từ cơ thể; như vậy theo Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon th́ sabhāvarasmi th́ thích hợp hơn là Chú giải Lịch sử Chư Phật bản tiếng Miến ghi là pabhārasmi, hào quang rực rỡ, vẻ đẹp huy hoàng và hào quang hay tia sáng rực rỡ huy hoàng.

[113]. Rattiṃ va pabbate sikhī ti rattiyaṃ pabbatamatthake aggi viya raṃsi vijjotitā tassa kāye

[114]. Xin đọc thêm bản văn tr. 91

[115]. Dassaneyyan ti dassaneyyo

[116]. Sabbajanan ti sabbo jano

[117]. Vihāran ti vihāro