NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

CHÚ GIẢI LỊCH SỬ CHƯ PHẬT

                                                              Nguyên Tác: BUDDHAVAMSA
                                                 Bản Pāli Ngữ: BUDDHATTA THERA
                                                Bản Dịch Anh Ngữ: I.B. HORNER
                                               Bản Dịch Việt Ngữ: TỲ KHƯU THIỆN MINH

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XXI. CHÚ GIẢI ĐỨC PHẬT TỔ SIKHIN

[243] Tiếp theo Đức Phật Vipassin và khi đại kiếp đó đă biến mất, trong ṿng năm mươi chín đại kiếp tiếp theo không có bất kỳ đức Phật nào xuất hiện trên thế gian này. Hào quang của Chư Phật đă biến mất.[44] Chỉ c̣n tồn tại duy nhất vương quốc phiền năo, là các thiên tử Ma và Ma-Vương, là không có ǵ ngăn cản nổi. Nhưng khoảng ba mươi mốt đại kiếp từ đó trở lại đây có hai vịa, là vị vua đă có rất nhiều ân đức tốt lành (gunavata). Sau mười tháng thọ thai, ngài Đản sanh khỏi ḷng mẹ tại nơi vui chơi giải trí Nisabha. Và khi đó có những thầy tiên tri có mặt trong lễ đặt tên cho ngài và họ hàng đă đặt tên cho ngài là Sikhin v́ cái khăn bịt đầu của ngài (Unhisa) đă đứng dựng lên như một ngọn lửa (sikhā).[45] Ngài đă lưu lại trong hậu cung khoảng bảy ngàn năm. Ba toà lâu đài của ngài có tên là: Sucandakasiri. Giriyasa, Nārivasabha[46]. Có tới hai mươi tư ngàn cung nữ sống trong hậu cung để hầu hạ ngài với Hoàng Hậu Sabbakāmā đứng đầu.

Khi ngài đă chứng kiến bốn hiện tượng và con trai của ngài tên là Atula, có rất nhiều ân đức vô địch (gunaganatula) đă được hoàng hậu Sabbakāmā hạ sanh, ngài đă xuất phát trong một chuyến xuất gia vĩ đại ngồi trên lưng voi. Ngài đă xuất gia. Bảy mươi trăm ngàn chúng sanh cũng xuất gia theo gương của ngài. Vây quanh với đám người đông đảo đó ngài đă quyết tâm thực hiện cuộc phấn đấu khổ hạnh trong tám tháng. Vào ngày rằm tháng Visākha, sau khi đă từ bỏ nhóm người đông đảo đó ngài đă tham gia một bữa cơm sữa ngọt do Sudassana, con gái một lái buôn tên là Piyadassi, dâng cúng cho ngài ngay trên một thị trấn và ngài đă trải qua một ngày tạm trú trong cánh rừng non Acacias.

Sau khi đă nhận[47] tám bó cỏ khô do một vị ẩn sĩ có tên là Anomadassin dâng cúng, ngài đă tiến lại gần cây Bồ Đề Puṇḍarka.[48] Người ta kể lại rằng cây Bồ Đề Puṇḍarka cũng có cùng kích thước với cây Bồ Đề Pṭal.[49] Vào chính ngày đó thân cây cao năm mươi ratanas, cành cây cũng trải rộng khoảng năm mươi Ratanas. Cây được che phủ với hoa có hương thơm như chư Thiên. Và không những chỉ có hoa mà thôi, c̣n có quả[50] phủ kín đầy cả cây. Một phía cây có quả xanh, phía khác th́ quả với kích cỡ trung b́nh và phía khác lại có đầy quả chín trên đó. Hương thơm, mùi vị và màu sắc giống như thể chúng được ngấm với tinh chất bổ dưỡng chư Thiên. Giống hệt như mười ngàn ta bà Thế Giới: những cây trổ hoa được làm đẹp với hoa và có rất nhiều hoa đă đậu trái trên cây.

Khi ngài đă rải những nắm cỏ khô trên một khoảng đất rộng độ hai mươi bốn Cubit ngài đă ngồi trong tư thế kiết già nhất quyết bốn chi tinh tấn. Ngồi như vậy, ngài đă cảm thắng ma vương và những đạo quân Ma - Vương trên một khoảng không gian khoảng độ ba mươi sáu do tuần (yojana), ngài đă chứng đắc Chánh Đẳng Giác. Ngài đă thốt lên những lời tuyên bố long trọng như sau:

“Xuyên qua biết bao nhiêu lần tái sanh nơi kiếp luân hồi... ta đă chứng đắc đoạn tận mọi ái dục.”

Ngài đă trải qua bảy tuần lễ gần cây Bồ Đề. Sau khi ngài đă nhận lời thỉnh cầu của vị Phạm Thiên, và nhận ra rằng có bảy mươi trăm ngàn vị tỳ khưu đă xuất gia cùng với ngài cũng đă đạt được những ân đức, ngài đă đi bằng con đường chư Thiên và ngự xuống trong khu vui chơi giải trí Migācira[51] gần thủ đô Aruṇavat, thành phố này có rất nhiều tường thành vây quanh (avaraṇavati). Vây quanh là đoàn người các vị hiền triết, ngài đă Chuyển Pháp Luân ở giữa đoàn người này. Thế rồi đây là cuộc thấu triệt Phật hội thứ nhất có tới một trăm ngàn mười triệu người tham dự. Do vậy có lời nói về điều này như sau:

[244] XXI

1. Sau Đức Phật Vipassin là Ngài Chánh Đẳng Giác hồng danh là Đức Phật Sikhin[52] người tối thượng so với mọi chúng sanh, vị chiến thắng, vô song, không ǵ sánh bằng.

2. Sau khi đă cảm thắng đạo quân Ma-vương không c̣n một mảnh giáp[53]. Ngài chứng đắc[54] vô thượng Chánh Đẳng Giác, ngài đă Chuyển Pháp Luân xuất phát từ ḷng từ bi của ngài đối với chúng sanh sanh linh.

3. Khi Đức Phật Sikhin, bậc ngưu Nhân[55] đang khi Chuyển Pháp Luân, lúc đó diễn ra cuộc thấu triệt Pháp hội đầu tiên có khoảng một trăm ngàn mười triệu người hiện diện.

Và c̣n nữa, khi ngài đang đến gần thủ đô Aruṇavatī và đă diễn giải Giáo Pháp cho hoàng tử Abhibhū[56] và Sambhava cùng với hai đoàn tuỳ tùng của hai vị, ngài đă khiến cho chín mươi ngàn mười triệu người được uống rượu thần Giáo Pháp. Đó là cuộc thấu triệt Pháp hội lần thứ hai. Do vậy về điều này có lời kể lại rằng:

XXI

4. Và sau đó một thời gian, một người tốt nhất trong toàn bộ chúng sanh, vị tối thượng trong muôn người, đang diễn giải Giáo Pháp, liền diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội lần thứ hai có chín mươi ngàn mười triệu chúng sanh tham dự.

Và khi tại cổng vào thành phố Suriyavati ngay gốc cây Champak[57] vị Phật tổ đang thực hiện Song thông để thu phục các ngoại giáo và để giải thoát toàn bộ chúng sanh khỏi triền phược và ngài diễn giải Giáo Pháp, lại diễn ra cuộc thấu triệt Pháp hội thứ ba cho tám mươi ngàn mười triệu người. Do vậy có lời kể về vấn đề này như sau:

XXI.

5. Và đang khi ngài thực hiện Song thông cho thế gian với các vị thần linh chứng kiến đă diễn ra cuộc thấu triệt Pháp hội thứ ba cho khoảng tám mươi ngàn mười triệu người.

Đức Phật Tổ đă tụng Giới Bổn giữa một trăm ngàn vị A-la-hán là những người đă xuất gia cùng với Abhibhū và Sambhava, là hai hoàng tử của nhà vua. Đó là Tăng Đoàn đầu tiên. Ngài đă tụng Giới Bổn giữa tăng đoàn, là những người họ hàng ruột thịt của ḿnh trong thành phố Aruṇavatī ở giữa khoảng tám mươi ngàn các vị tỳ khưu cũng đă xuất gia. Đó lại là Tăng Đoàn thứ hai. Ngài cũng đă tụng Giới Bổn” trong thành phố Dhanañjaya vào thời điểm ngài được “dẫn ra” ngoài gia chủ Dhanapālaka[58] ngay chính giữa bảy mươi ngàn vị tỳ khưu đă xuất gia.[59] Đó là Tăng Đoàn thứ ba. Do vậy có lời nói về điều này như sau:

XXI

6. Cả Đức Phật Sikhin, vị đại ẩn sĩ, cũng có ba tăng đoàn gồm những người trung kiên họ đă đoạn tận các lậu hoặc, là những người vô tỳ vết và an tịnh trong tâm.

7. Tăng Đoàn đầu tiên qui tụ được một trăm ngàn các vị tỳ khưu; Tăng Đoàn thứ hai gồm tám mươi ngàn vị tỳ khưu.

[245] 8. Tăng Đoàn thứ ba gồm bảy mươi ngàn vị tỳ khưu; giống như hoa sen mọc dưới nước mà không bị hôi tanh mùi bùn.[60]

8. Trong trường hợp này không hôi tanh mùi bùn có nghĩa: Giống như một bông sen, được sanh ra dưới nước, mọc lên trong nước, lại không bị hoen ố do nước. Cũng vậy Tăng oàn các vị tỳ khưu, cho dù có được sanh ra trong thế gian này cũng không hề bị hoen ố do các điều ô uế nơi thế gian này.

Họ nói rằng Vị Bồ Tát lúc đó là một vị vua tên là Arindama cai trị trong thành phố Paribhutta nhưng lại xa lánh đám đông, khi đạo sư sikhī với oàn tuỳ tùng của ngài tiến lại gần thành phố Paribhutta. Sau khi ra khỏi hoàng cung để gặp ngài, th́ trái tim, con mắt và tai của ngài tràn đầy niềm vui. Và cùng với đoàn tuỳ tùng sau khi ngài đă cúi rạp đầu xuống đất với hai đoá sen ngài kính lễ đức Như Lai Thập Lực[61] lúc đó ngài c̣n đang đi trên đường, ngài đă mời đức Như Lai Thập lực đến thăm hoàng cung. Nhà vua đă tổ chức một cuộc đại thí kéo dài trong bảy ngày theo niềm tin và tài sản như là một qui luật của hoàng gia và ngài đă mở cửa kho vải, ngài đă ban tặng những bộ y đắt tiền cho Tăng Già các vị tỳ khưu có Đức Phật Tổ lănh đạo. Và nhà vua c̣n ban tặng cả con voi của ḿnh, tương tự như con voi Ervaṇa[62] là con voi quí nhất trong đám voi hoàng gia, rất mănh lực và có tốc độ rất nhanh và được trang hoàng với ṿng hoa kết lưới bằng vàng nơi chiếc đuôi, cặp ngà rất đẹp, áo khoác cho voi và chiếc đuôi toả sáng giống như vàng ṛng bóng láng. Hai tai cử động nhịp nhàng sáng bóng như ánh trăng lung linh. Ngài cũng ban tặng thêm đồ đạc đáng giá bằng chính con voi nữa. Vị đạo Sư cũng đă thọ kư về ngài: “ba mươi mốt đại kiếp nữa kể từ nay ngài sẽ trở thành một Đức Phật”. Do vậy có lời giải thích về điều này như sau:

XXI

9. Vào thời đó ta là một Quí Tộc Sát Đế Lị tên là Arindama. Ta cúng dường với đồ ăn thức uống tươi mát cho Tăng Đoàn có Đức Phật Chánh Đẳng Giác ứng đầu.

10. Sau khi đă bố thí biết bao nhiêu bộ y cà sa – không dưới mười triệu bộ y – ta đă ban tặng cho Đức Phật Chánh Đẳng Giác một con voi được phủ đầy đồ trang sức.

11. Kích thước tương đương với giá trị con voi ta cũng đă ban tặng số tài sản giá trị như vậy, ta đă hoàn tất được mục tiêu ta luôn hiện hữu và chắc chắn.

12. Và đức Phật Sikhin, vị lănh đạo thế gian tối thượng cũng đă thọ kư về ta như sau: “Ba mươi mốt đại kiếp từ đây trở về sau ta sẽ trở thành một đức Phật.”

13. Sau khi xuất gia rời khỏi thành phố tuyệt vời tên là Kapila[63]... ” Chúng ta sẽ được diện kiến với Đức Phật này.”

14. Khi ta nghe được lời ngài phán như vậy, ta càng tỏ rơ quyết tâm cao trong ḷng. Ta nhất quyết tu tập nhiều hơn nữa để chu tất mười Pháp Ba la mật.

Và Thành Phố của Đức Thế Tôn đó có tên là Aruṇavatī, vua cha của ngài tên là Aruṇavā, mẹ ngài có tên là Pabhāvatī. Abhibhū và Sambhava là hai tối thượng nam thinh văn của ngài. Thị giả cho ngài tên là Khemaṅkara, hai tối thượng nữ thinh văn của ngài tên là Makhilā[64] và Padumā. Cây Bồ Đề của ngài có tên là Cây Puṇḍarka. Và thân h́nh của ngài cao bảy mươi cubit; hào quang phát ra từ thân thể ngài toả ra liên tục khoảng độ ba do tuần (yojana) [246] tuổi thọ của ngài kéo dài bảy mươi ngàn năm. Người vợ chính của ngài có tên là Sabbakāmā. Con trai tên là Atula. Do vậy có lời giải thích những sự kiện này như sau:

XXI.

15. Aruṇavatī là tên thành phố. Aruṇavā [65] là tên vị Quí Tộc Sát Đế Lị và Pabhāvatī là tên của mẹ Đức Phật Sikhin, cũng là một vị đại ẩn sĩ.

20. Abhibhū và Sambhava là hai tối thượng nam thinh văn của ngài. Khemaṅkara là tên vị Thị giả cho Đức Phật Sikhin, vị đại ẩn sĩ.

21. Makhila[66] và Paduma là hai tối thượng nữ thinh văn của ngài. Cây Bồ Đề của vị Phật Tổ đó có tên là Punḍarīka.

22. Sirivaḍḍha và Canda[67] là hai tối thượng cận sự nam, Cittā và Sugattā là hai tối thượng cận sự nữ.

23. Vị Phật Tổ đó cao bảy mươi cubit. Ngài có đến ba mươi hai tướng giống như một cột trụ bằng vàng được trang hoàng kỹ càng.

24. Hào quang phát ra độ một sải, là một luồng sáng toả ra từ thân xác ngài liên tục cả ngày lẫn đêm không lúc nào tắt [68] khoảng độ ba do tuần (yojana) trên khắp mọi nơi.

25. Tuổi thọ của vị đại ẩn sĩ này vào khoảng bảy mươi ngàn năm. Sống lâu như vậy ngài đă tạo cho biết bao nhiêu chúng sanh vượt qua được (bộc lưu)

26. Ngài đă làm cho mây Giáo Pháp mưa xuống làm tươi mát thế gian với các vị chư Thiên. Chứng đắc an tịnh cho chính ḿnh, ngài đă viên tịch cùng với các đồ đệ của ḿnh.

27. Các tướng phụ rơ nét có được khi được phú bẩm ba mươi hai đặc tướng vinh quang trên ḿnh cũng biến mất. Phải chăng toàn bộ các pháp hành trên thế gian này cũng chỉ là trống rỗng mà thôi?

11. Trong trường hợp này kích thước đo được có nghĩa là kích thước của con voi đó.

11. Giá trị nghĩa là những tài sản nầy có giá trị là những đồ dùng đắc giá cho các vị tỳ khưu thọ dụng

11. Ta đă hoàn tất mục tiêu của ta nghĩa là do phỉ lạc của Bố thí, ta đă hoàn tất ư định của ta và làm cho hân hoan sâu kín phát sanh trong ta.

12. Luôn hiện hữu và chắc chắn: ư nghĩa là. ư nghĩ ‘ta sẽ luôn luôn thực hiện bố thí” v́ ư định thực hiện bố thí luôn lúc nào cũng hiện hữu và chắc chắn

[247] 21. Cây Puṇḍarika: nghĩa là một cây soài trắng[69]

24. Hào quang rộng ba do tuần (yojana): ư nghĩa ở đây là, hào quang toả ra khoảng độ ba do tuần (yojana)

26. Cơn mây Giáo Pháp có nghĩa là đám mây mưa Giáo Pháp. Một cơn mây của Đức Phật chính là cơn mây mưa xuống Giáo Pháp.

26. Làm tươi mát: nghĩa là, làm ẩm. Rải nước thuộc bài thuyết giảng về Giáo Pháp.

26. Thế gian với các chư Thiên Có nghĩa là mọi chúng sanh cộng với cả chư Thiên.

26. An tịnh đó có nghĩa là an tịnh, Níp Bàn.

27. Những tướng phụ ngài đă được trang hoàng với: ư nghĩa ở đây là thân thể của Đức Phật tổ được trang hoàng với tám mươi tướng phụ,[70] bắt đầu với móng tay màu đồng, móng tay dài, móng tay bóng loáng. Ngón tay tṛn trịa, v.v... và được làm đẹp với ba mươi hai tướng của một vị Đại Nhân.

Và Sikhī, đấng Chánh Đẳng Giác. Đă viên tịch đi tại ngôi chùa tên là Assa[71] trong thành phố Sīlavatī.

Sikhin đương nhiên đă toả sáng chói trên thế gian này.

Sikhin đương nhiên ầm vang trên đám mây đang bay tới.

Sikhin, là vị đại ẩn sĩ, đă từ bỏ được ánh lửa[72] (tái sanh)

Sikhin, đương nhiên đă ra đi, Thiện Thệ, và đạt đến an tịnh

Người ta kể lại rằng xá lợi của Đức Phật Tổ được duy tŕ nguyên vẹn; và không bị phân tán. Nhưng những người sống trên toàn cơi Diêm Phù Đề đă cho xây dựng một tháp cao ba do tuần (yojana) xây bằng bảy loại đá quư và toả sáng trắng bóng như một núi phủ đầy tuyết.

Ư Nghĩa những ǵ c̣n lại trong các đoạn kệ coi như đă quá rơ ràng.

Đến Đây Kết Thúc Phần Chú giải Biên Niên Kư Sự Đức Phật Tổ Sikhin.

Cũng kết thúc Biên Niên kư về Đức Phật tổ thứ hai mươi mốt.

 

-ooOoo-

 

[44]. Bỏ qua, trong BvAC như đă được lưu ư trong BvAB

[45]. Xin đọc thêm Mhvu iii. 246.

[46]. Phật Tông ghi là Sucando Giri Vahano.

[47]. Các từ thường được đi kèm với là “vào buổi tối” không thấy được ghi ở đây

[48]. Xin đọc D ii. 4

[49]. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa điều này ám chỉ cây Bồ đề của Đức Phật Vipassin, xin đọc bản văn tr. 236, cũng như Chú giải Trường Bộ Kinh (DA) 416

[50]. BvAC ghi là sahito như đă được lưu ư trong BvAB giải thích là sañchanno

[51]. BvAB ghi là migājinā, lưu ư đây là cách giải thích của BvAC

[52]. Be, BvAB ghi là Sikhivhayo āsi, Bv ghi Sikhisavhayo nāma.

[53]. BvAC ghi là Pabhinditvā. Bv ghi pamadditvā.

[54]. BvAC ghi là patvā, Bv ghi patto

[55]. Puṅgava như trong Vism 78. Nhvu iii 249.

[56]. Xin đọc DPPN s.v. I Abhibhū, ám chỉ đến trong A I 227, Kvu 203, Chú giải Trường Bộ Kinh (DA) 416 cả hai đă được nói đến trong S I 155tt

[57]. Michelia Champaka.

[58]. Không có thông tin nào về ngài khả dĩ biết được

[59]. Theo như Pháp cú kinh (Dhammapada) iii 236 ngài đă tụng giới bổn cứ mỗi sáu năm một lần; xin đọc VA 191

[60]. Xin đọc A ii 39

[61]. BvAB giải thích là dasabalassa amalacaraṇakamalayugalesu. BvAC ghi dasabalacaraṇakamalayugale. Rất có thể không có tham khảo nào về đoạn kệ 8 tuy nhiên có từ paduma là từ được dùng cho từ hoa sen.

[62]. Xin đọc bản văn tr. 210

[63]. Xin đọc xx 14

[64]. Xin đọc chú thích đoạn kệ 21 dưới đây

[65]. Xin đọc BvAC. S i. 155, Jkm 18; Bv, Be BvAB ghi là Aruna

[66]. Như trong BvAC , Be, Ja I 41; Akhilā trong Phật Tông; Sakhilā trong BvAB

[67]. Be, BvAC ghi là Nanda.

[68]. BvAC ghi là tassa vyāmappabhā kāyā rattindivaṃ atanditā; Bv ghi tūssaāpi byāmappabhā kāyā divā rattiṃ nirantaraṃ

[69]. Setambanrukkha như trong Chú giải Trường Bộ Kinh (DA) ii 416

[70]. Được liệt kê trong Muln-t tr. 17

[71]. Assārāma trong Be, BvAC nhưng Dussārāma trong Bv Thūp 16 Jkm 18, có lẽ ám chỉ đoạn kệ 10 ở trên trong đó vị Bồ tát Ban cho Đức Phật y cà sa

[72]. Indhana là nhiên liệu, củi như trong tr. 166-219