NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

CHÚ GIẢI LỊCH SỬ CHƯ PHẬT

                                                              Nguyên Tác: BUDDHAVAMSA
                                                 Bản Pāli Ngữ: BUDDHATTA THERA
                                                Bản Dịch Anh Ngữ: I.B. HORNER
                                               Bản Dịch Việt Ngữ: TỲ KHƯU THIỆN MINH

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XIX. CHÚ GIẢI PHẬT TỔ PHUSSA

[232] Tiếp theo sau Đức Phật Tissa sau khi đă kéo dài trong một thời gian vô định, do quá tŕnh giảm xuống, tuổi thọ tăng dần trở lên và lại giảm xuống dần đến mức độ chúng sanh chỉ c̣n được hưởng tuổi thọ vào khoảng chín mươi ngàn năm, lúc đó Đức Phật Phussa đă xuất hiện trong thế gian đó. Sau khi đă chu tất các pháp Ba la mật. Ngài tái sanh nơi cơi Trời Đâu Suất. Tịch diệt khỏi cơi đó, ngài đă giáng trần tái sanh trong ḷng hoàng hậu có tên là Sirima, hoàng hậu nhiếp chính của nhà vua Jayasena đang trị v́ trong thành phố Kāsi. Sau mười tháng ngự trong ḷng mẹ, ngài đă Đản sanh trong công viên Sirimā. Ngài đă trải qua cuộc sống hậu cung trong ṿng chín ngàn năm.[476] Người ta kể lại rằng ngài có ba ṭa lâu đài tên là Garuḷapakkha[477], Haṃsa và Suvaṇṇahrā[478]. Có khoảng ba mươi ngàn phụ nữ phục dịch cho ngài trong hậu cung với Kisāgotamī ứng đầu.

Khi ngài đă chứng kiến bốn hiện tượng và người con trai của ngài tên là Anupama được sanh ra cho người vợ của ngài là Kisāgotamī, sau khi đă lên đường thực hiện một cuộc xuất gia vĩ đại, ngài đă rời khỏi hoàng cung cưỡi trên lưng voi. Cùng với một đoàn người khoảng mười triệu người cũng đă xuất gia theo gương của ngài trong cuộc xuất gia đó. Đoàn người này đang vây quanh ngài, đă quyết định thực hiện một cuộc phấn đấu khổ hạnh kéo dài trong ṿng sáu tháng. Rồi sau khi đă từ biệt đám đông và rút lui sống một ḿnh trong ṿng một tuần, ngài đă tiến tới rất nhiều tĩnh lặng. Khi ngài đă tham dự một bữa tiệc cơm sữa ngọt do người con gái một thương buôn tên là Sirivaḍḍhā dâng cúng cho ngài vào ngày rằm tháng Visākha ngay tại một thành phố nào đó, ngài đă trải qua một ngày tạm trú trong cánh rừng Simsapā[479].

Vào ban đêm, sau khi đă nhận tám bó cỏ khô do một vị đạo sĩ[480] tên là Sirivaḍḍhā Ngài đă tiến lại gần gốc cây Bồ Đề Āmalaka và rải đám cỏ khô đó trên một khoảng đất rộng ba mươi tám cubit. Sau khi đă chứng đắc Chánh Đẳng Giác và thốt lên những lời tuyên bố long trọng, ngài đă trải qua bảy tuần lễ gần Cây Bồ Đề đó. Khi ngài thấy mười triệu vị tỳ khưu đă cùng xuất gia với ngài đă có khả năng thấu triệt Pháp, ngài liền di chuyển trên không, và đáp xuống vườn Lộc Uyển là nơi cư trú của nhà ẩn sĩ trong thành phố Saṅkassa, ngài đă Chuyển Pháp Luân ngay giữa đám đông. Rồi đă diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội cho khoảng một trăm ngàn mười triệu chúng sanh tham dự. Do vậy có lời kể lại rằng:

XIX

1. Trong cùng một đại kiếp Maṇḍa có đạo sư Phussa, là người trí tuệ[481], vô địch, là vị lănh đạo cao nhất trên thế gian này.

2. Khi Ngài đă xua tan mọi bóng tối và gỡ mọi rối rắm to lớn cho thế gian. Ngài đă làm mưa xuống nước bất tử để làm tươi tắn thế gian với cả các chư Thiên nữa.

3. Khi Đức Phật Phussa đă Chuyển Pháp Luân trong buổi lễ hội các cḥm sao,[482] đă diễn ra cuộc thấu triệt Pháp hội có khoảng một trăm ngàn mười triệu chúng sanh tham gia.

[233] 1. Trong trường hợp này trong cùng một đại kiếp Maṇḍa có nghĩa là: một đại kiếp trong đó nổi lên hai Đức Phật cùng một lúc. Được gọi như ở trên là đại kiếp Maṇḍa[483].

2. Đă gỡ rối cho có nghĩa là đă làm sáng tỏ (gỡ rối)

2. T́nh trạng rối rắm lớn có nghĩa là về vấn đề này “tangle” là một từ đồng nghĩa với ái dục. Điều này, do thường xuyên nổi lên v́ thường xuất hiện cả trên lẫn dưới các đối tượng thiền, lại được cho là rối bời như mớ ḅng bong” được biết đến như là mạng lưới (với những sợi dây[484] hiểu theo nghĩa bện quấn lại[485]: đó là một mối rối bời to lớn.

2. Với các chư Thiên có nghĩa là thế gian này cùng với các chư Thiên.

2. Mưa xuống có nghĩa là đổ mưa xuống.

2. Nước bất tử.[486] Có nghĩa là làm tươi mát (thế gian) ngài đă đổ mưa xuống bằng thứ nước của những bài thuyết pháp được coi là bất tử.

Và khi trong thành phố Bāraṇasī của nhà vua tên là Sirivaḍḍha, người đă từ bỏ một số tài sản rất lớn, ngài đă xuất gia trong một cuộc xuất gia gồm các vị đạo sĩ. Chín mươi ngàn các vị đạo sĩ đi theo ngài. Đức Phật Tổ đă thuyết pháp cho họ. Rồi đă diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội gồm tới chín mươi ngàn người tham dự. Và khi ngài diễn giải Phật Pháp cho chính con trai của ngài, là hoàng tử Anupana, lại diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội thứ ba gồm tám mươi ngàn người tham dự. Do vậy có lời nói rằng:

XIX.4. Cuộc thấu triệt Pháp hội thứ hai có khoảng chín mươi ngàn người. Cuộc thấu triệt Pháp hội thứ ba có khoảng tám mươi ngàn chúng sanh.

Vào thời đó trong thành phố Kanṇakujja, con của Đức vua Surakkhita và con của vị thầy tử tế, Đồng tử Dhammasena cùng với sáu mươi ngàn người đi đến diện kiến Đức Phật Phussa bậc A la Hán, Chánh Đẳng Giác, khi Ngài đến thành phố của họ. Sau khi đảnh lễ Ngài và mời thỉnh Ngài, họ đă tổ chức một cuộc đại thí khoảng bảy ngày, và khi họ đă nghe Pháp do Đấng Thập lực[487] thuyết, những vị ấy đă đắc A la Hán. Đức Thế Tôn đă tụng Giới Bổn trong giữa sáu mươi ngàn vị tỳ khưu này. Đó là Tăng hội thứ nhất. Lại nữa, trong thành phố Kāsi Ngài đă giảng dạy Biên Niên Kư Sự của Chư Phật trong một cuộc hội họp có ít nhất khoảng hoàng thân quốc thích của Đức vua Jayasena. Khi họ nghe thời pháp nầy, năm mươi ngàn người đă xuất gia bằng cách “Thiện lai tỳ khưu” (công thức cho xuất gia) và đă đắc A la Hán. Đức Thế Tôn đă tụng Giới Bổn trong giữa những vị nầy. Đó là Tăng hội thứ nh́. C̣n nữa, khi bốn mươi ngàn người nghe thuyết giảng điều lành trong một cuộc hội họp về đại điềm lành. Mahā, Maṅgala[488], những vị ấy đă xuất gia và đắc A la Hán. Đức Thế Tôn đă tụng Giới Bổn trong giữa những vị nầy. Đó là Tăng hội thứ ba. Do vậy, có lời kể rằng:

XIX

5. Và Phật Tổ Phussa, vị đại ẩn sĩ, đă qui tụ được ba nhóm người kiên định, những vị ấy đă đoạn tận các lậu hoặc là những người vô tỳ vết, và an tịnh trong ḷng.

[234] 6. Tăng hội đầu tiên gồm sáu mươi ngàn người; Tăng hội thứ hai gồm năm mươi ngàn người.

7. Tăng hội thứ ba là nhóm gồm tới bốn mươi ngàn người, là những người đă được giải thoát khỏi toàn bộ sanh y không c̣n dính líu ǵ đến tái sanh.

Vị Bồ Tát của chúng ta lúc đó là một Quí Tộc Sát Đế Lị, tên là Vijitviṅ cư ngụ trong thành phố Arimanda. Sau khi đă nghe diễn giải Giáo Pháp và rất thán phục đức Phật Tổ Phussa, ngài đă tổ chức một cuộc đại thí cho ngài. Sau khi đă từ bỏ vương quốc rộng lớn của ḿnh, ngài đă xuất gia trước sự chứng kiến của Đức Phật Tổ Phussa, ngài đă thấu triệt được Tam Tạng, ngài là chuyên gia về Tam Tạng, ngài đă thực hiện thuyết Giảng Giáo pháp cho đại chúng và chu tất Giới Ba la mật. Đức Phật Tổ đó lại thọ kư về ngài như sau, “Người đó sẽ trở thành một Phật Tổ.” Do vậy mà có lời nói rằng:

XIX

8. Vào thời điểm đó ta là một Quí Tộc Sát Đế Lị tên là Vijitāvin. Sau khi đă từ bỏ vương quốc rộng lớn của ḿnh, ta đă xuất gia trước sự hiện diện của (Đức Phật Phussa) vị Đại ẩn sĩ.

9. Và đức Phật Phussa, vị lănh đạo thế giới tối thượng, cũng đă thọ kư về ta như sau: ”Chín mươi hai đại kiếp kể từ nay vị này sẽ là một đức Phật.”

10. Khi ngài đă quyết định thực hiện cuộc phấn đấu khổ hạnh....”

11. ...Để chu tất mười pháp Ba la mật.

12. Sau khi đă học hỏi thông suốt Tạng Kinh và Tạng Luật cùng toàn bộ Giáo pháp chín chi của vị đạo sư. Ta đă khai sáng Giáo Pháp của vị chiến thắng.

13. Sống cuộc đời chuyên cần, tu tập được những điều tu tập Phạm trú, sau khi đă đạt đến Ba la mật thắng trí ta đă được gia nhập cơi Phạm Thiên[489].

Thành phố của Phật tổ Phussa tên là Kāsī[490], quốc vương cha ngài tên là Jayasena[491], mẹ ngài tên là Sirimā. Surakkhita[492] và Dhammasena là tối thượng nam thinh văn của ngài. Vị Thị giả của Ngài tên là Sabhiya. Sālā và upasālā [493]là hai tối thượng nữ thinh văn của Ngài. Cây Bồ Đề có tên là Āmalaka. Thân h́nh của ngài cao khoảng năm mươi tám cubit. Tuổi thọ của ngài kéo dài chín mươi ngàn năm. Người vợ chính của ngài tên là Kisāgotamī. Con trai của ngài tên là Anupama[494] Khi xuất gia ngài cưỡi trên lưng voi. Do vậy có lời nói rằng:

XIX

14. Kāsika là tên thành phố ngài đă trụ tŕ trong đó, Jayasena là tên của Quí Tộc Sát Đế Lị, và Sirimā là tên của mẹ Phật tổ Phussa, vị đại ẩn sĩ.

[235] 20. Cây Bồ Đề của Đức Phật Tổ đó được cho là cây maṇḍa.

22. Và thân h́nh của vị hiền nhân này cao khoảng năm mươi tám ratanas. Ngài chiếu sáng như thể đức Như Lai có ngàn Hào quang, trông tựa trăng rằm.

23. Tuổi thọ b́nh thuờng của ngài kéo dài chín mươi ngàn năm. Sống lâu đến như vậy ngài đă khiến cho biết bao nhiêu người vượt qua được bộc lưu.

24. Khi ngài đă động viên được biết bao nhiêu chúng sanh[495] vượt qua bộc lưu, vị đạo sư đó cũng đă nổi tiếng vô cùng, và ngài đă viên tịch với các đồ đệ của ngài.

20. Trong trường hợp này āmaṇḍa có nghĩa là cây[496] Giác Ngộ āmalaka.

24. Khi ngài đă động viên có nghĩa là ngài đă đưa ra những lời động viên, sau khi đă thuyết giảng.

24. V Đạo sư này cũng đă vô cùng nổi tiếng, có nghĩa là: vị đạo sư đó, nổi tiếng vô cùng. “Khi ngài đă trở nên nổi tiếng vô song” cũng là một cách giải thích.[497] Ư nghĩa theo như đối với tất cả những ǵ được nói về ngài là, “sau khi đă từ bỏ địa vị cao trọng của ḿnh”[498] Họ cho là Đức Phật Phussa đă Níp-bàn trong công viên hoàng gia Sena[499] tại thành phố Kusinārā. Người ta cho là xá lợi của ngài đă được phân tán.

Những ǵ c̣n lại trong các đoạn kệ khác đă quá rơ ràng.

Đến đây kết thúc Phần Chú giải Biên niên Kư Sự Đức Phật Tổ Phussa.

Đến đây cũng kiết thúc Biên niên Kư Sự Đức Phật Tổ thứ mười chín.

 

-ooOoo-

 

[476]. Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon cho là khoảng 6.000 năm, nhưng 9.000 năm của Be, BvAB Jkm lại đồng ư cho là tốt hơn hết là với chiều dài tuổi thọ của ngài.

[477]. Phật Tông ghi là Garuḷa

[478]. Phật Tông ghi là –bharā. Người khác lại giải thích là –bhārā, - tārā

[479]. Dulbergia sisu

[480]. Tāpasa, BvAB ưa ra điều này như là v.1 do upāsaka

[481]. Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon ghi là asadiso, độc nhất. Nhưng Bv, Be, và BvAB đều ghi asamasamo.

[482]. Phussa cũng c̣n là tên gọi một cḥm sao. Đoạn kệ này cũng được dịch rất tốt là, “khi ngài đang Chuyển Pháp Luân trong một cuộc lễ hội các cḥm sao Phussa” người ta cũng đă coi ngài được sanh ra dưới cḥm sao này hay có một lễ hội được tổ chức vào ngày sinh nhật của ngài, và ngài được đặt tên theo đó. Mhvu iii. 245

[483]. Bản văn tr. 191

[484]. Suttagumhajālapūvassaṅkhātajatā. ṇamoli. Ppn tṛ 109 gợi ư rằng Jālapūva trong Vism 108 “có thể là điều giờ đây ta biết được tại Ceylon như là loại nhảy dây hay đại loại như vậy” từ Jālapūva cũng xuất hiện trong Pháp cú kinh (Dhammapada) I 319 với v.1 là pūpa.

[485]. Hay, khâu lại với nhau. saṃsibbana

[486]. Amatambu

[487]. Chú giải Lịch sử Chư Phật bản tiếng Miến lại chèn từ bhagavati pasīdīvati te saparivāro pabbajitvā (cảm thấy hài ḷng với Đức Thế Tôn những người này, cùng với đoàn tuỳ tùng của họ vây quanh đă xuất gia. Và chú ư đến việc bỏ sót trong BvAC. Rất có thể số ít, saparivāro tượng trưng cho sự khác biệt này v́ giống như mỗi hoàng tử rất có thể có đoàn tuỳ tùng riêng của ḿnh, số nhiều ở đây xem ra thích hợp hơn

[488]. Xin đọc bản văn tr. 136

[489]. Về hai đoạn kệ sau cùng này xin đọc bản băn tr 138, 151. 200

[490]. Chú giải Lịch sử Chư Phật bản tiếng Miến ghi là Kāsika

[491]. Chú giải Tăng chi Bộ Kinh i.256-259 ghi la Mahinda

[492]. Phật Tông ghi là Sukhita

[493]. Phật Tông ghi là Sālā Upacālā

[494]. Ānanda trong Phật Tông XIX.16

[495]. Be-BvACB bahū jane, Phật Tông mahā jane

[496]. Āmalaka trong bản văn trang 232. Chú giải trung Bộ Kinh IV.147 cũng chú thích āmaṇḍa (ở M.Tri-101) bằng āmalaka. Xem MLS iii.140.n.3

[497]. So jahitvā amitayaso

[498]. Visesaṃ hitvā

[499]. Như trong Be, BvAC, Ja Jkm nhưng Phật Tông ghi là Sona, Thup 15 ghi là Sundara