NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

CHÚ GIẢI LỊCH SỬ CHƯ PHẬT

                                                              Nguyên Tác: BUDDHAVAMSA
                                                 Bản Pāli Ngữ: BUDDHATTA THERA
                                                Bản Dịch Anh Ngữ: I.B. HORNER
                                               Bản Dịch Việt Ngữ: TỲ KHƯU THIỆN MINH

PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

IIB. CHÚ GIẢI ĐỨC PHẬT DĪPAṄKARA

Những cư dân thành Ramma là các cận sự nam đă tổ chức buổi bố thí lớn dành cho Tăng Đoàn các vị tỳ khưu đứng đầu là đức Phật Dipaṅkarā, kính lễ và kính bái ngài bằng những ṿng hoa, dầu thơm v.v... Khi ngài đă dùng bữa xong và rút tay ra khỏi bát của ngài, họ ngồi xuống gần ngài và nóng ḷng muốn nghe lời chúc phúc của ngài về cuộc bố thí ngày hôm nay. Sau đó đạo sư đă ban phước cho họ với những lời ngọt ngào chúng ta sắp sửa được nghe sau đây:

“Của bố thí được coi là nguồn hạnh phúc v.v... là cầu thang và là nguồn trợ lực cho những kẻ nên giống như chư Thiên[1]

65

Của bố thí chính là nơi cư trú của một người, là niềm trợ giúp cho cả họ hàng và là ḍng suối mát tuyệt vời nhất cho chúng sanh bị buồn sầu ám Đảnh.

66

[120] Của bố thí được ví như một chiếc tàu hiểu theo nghĩa chuyên chở chúng sanh thoát khỏi đau khổ; và của bố thí cũng được khen ngợi như là một thành phố, bằng cách ǵn giữ chúng sanh khỏi mọi sợ hăi.

67

Và của bố thí lại được ví như là một con rắn độc hiểu theo nghĩa rất khó bị tấn công; của bố thí là cánh hoa sen vô tỳ vết khỏi tham lam v.v...

68

Trên đời này chẳng có sự trợ giúp nào dành cho một người nào cả ngoài của bố thí; chính v́ thế hăy thực hiện việc bố thí theo chiều hướng tích cực.

69

Những của bố thí khôn ngoan chính là nguồn tái sanh nơi thiên đàng. Ai là người trên thế gian này. Đang say mê với hạnh phúc, lại chẳng phải là người đang say mê thực hiện bố thí đó sao?

70

Ai là người khi nghe thấy việc bố thí tạo chứng đắc nơi các chư Thiên, lại không thực hiện bố thí, bố thí là sợi dây ràng cột hạnh phúc, là niềm vui cho cơi ḷng ta nhỉ?

71

Khi một người nào đó đang di chuyển đó đây lại thực hiện bố thí, người đó có thể t́m thấy niềm vui sướng trong một thời gian dài, được các tiên nữ bao quanh, nơi Nandana, là Nandana dành cho các vị chư Thiên.[2]

72

Người bố thí t́m thấy phỉ lạc tột đỉnh; trên thế gian này người đó bước đi trong niềm kính trọng và người bố thí c̣n được hưởng tiếng thơm vô tận,[3] và được tín cẩn.

73

Đang khi thực hiện việc bố thí, người đó sẽ được phồn vinh và được nhiều của cải[4]sẽ được sống lâu; người đó cũng sẽ được một thân h́nh duyên dáng; được vui chơi đùa giỡn với các chư Thiên trên trời, được trú ngụ trong ngôi nhà vang tiếng nhạc công đờn hát.

74

Tài sản của kẻ trộm, của kẻ thù, của nhà vua, nước, lửa cũng không thể phân chia được; nhưng của bố thí người đó thực hiện th́ thực sự sẽ xuất hiện nơi lănh vực trí của chư Thinh văn, nơi lănh vực Phật Độc Giác và lănh vực Phật Toàn Giác”

75

Sau khi ngài đă chúc phước cho của bố thí đó bằng cách bắt đầu như vậy và ngài đă giải thích những lợi thế khi ta thực hiện bố thí, ngay tức khắc ngài đă thuyết giảng một bài về tŕ giới[5] tŕ giới này thực sự là nền tảng cho mọi chứng đắc[6] trên cơi đời này và cả trên cơi đời sau nữa:

“Giới đức là nguồn hạnh phúc tuyệt vời nhất; người có giới đức tiến tới với giới đức đạt tới cơi Tam Thập Tam. V́ đạo đức chính là nơi trú ẩn, là căn hầm và là nguồn trợ giúp cho kẻ nào đang trong Ṿng Luân Hồi tái sanh.

76

Và t́m đâu ra, tại cuộc sống này hay cuộc sống mai hậu, được nguồn trợ giúp khác cho những người xứng với tŕ giới đó? Giới đức là nguồn trợ giúp chính để có được những ân đức đặc biệt giống như trái đất cũng là nguồn trợ giúp cho những ǵ bất động và cho cả những ǵ đang di chuyển[7].

77

Giới đức thật dễ thương làm sao. Giới đức là điều tối thượng trên đời này, kẻ nào có giới đức chính là người có phẩm hạnh tốt và là một cuộc tu tập cuộc sống Thánh hạnh[8].”

78

[121] Chẳng có đồ trang sức nào sánh bằng đồ trang sức giới đức. Chẳng có dầu thơm nào sánh bằng dầu thơm giới đức. Chẳng có cách nào tẩy sạch được các vết nhơ phiền năo sánh bằng giới đức cả. Chẳng có cách nào làm giảm bớt cơn sốt nung đốt (do các đam mê, v.v...) lại sánh bằng giới đức được. Chẳng có bậc thang nào để trèo lên đỉnh tầng trời sánh bằng giới đức. Và cũng chẳng có ngưỡng cửa nào để vào được kinh thành Níp Bàn lại sánh bằng giới đức được. Như có lời nói rằng[9]:

Các vị vua cho dù được trang điểm bằng vàng ṿng châu báu cũng không sáng giá bằng những người thu thúc được tô điểm bằng những đồ trang sức do giới đức mà có. Ta có thể t́m đâu ra được một loại dầu thơm giống như loại dầu thơm do giới đức đem lại, phất phới bay trong gió và cũng bay ngược được với gió chăng?

Dầu thơm của loài hoa sẽ không bay ngược chiều gió được, cũng như mùi thơm gỗ đàn hương hay hương nhang hay mùi thơm vừng mè; một người tốt sẽ tràn ngập mọi chốn và mùi thơm giới đức của người đó sẽ bay ngược với chiều gió.*

Gỗ đàn hương hoặc mùi hương nhang và hoa sen, cũng như dầu mè[10] - trong số những loại dầu thơm th́ dầu thơm giới đức là loại tối thượng*1

Ngay cả ḍng sông Hằng hay sông Jumnā, sông Sarabhū cũng như sông Sarassatī, cả ḍng sông sâu chảy xiết Aciravatī hay ngay cả Đại sông Mahī[11] cũng không thể quét sạch được những vết nhơ của các chúng sanh. V́ chỉ có ḍng nước giới đức mới có thể rửa sạch được những vết nhơ của chúng sanh mà thôi.

Ngay cả những cơn gió thổi làm mây mưa tới, hoặc ngay cả gỗ đàn hương màu vàng, ngay cả những chuỗi hạt vàng ngọc hoặc đá quí hay ngay cả vẻ sáng ngời của những ánh trăng cũng chẳng thể giúp ích ǵ trên đời này[12] hay làm dịu cơn sốt cho các chúng sanh cũng chẳng giúp ǵ được mà chỉ có giới đức thánh thiện mới thực sự đem lại nguồn mát lạnh vĩnh cửu.

Giới đức có thể đẩy lùi hoàn toàn được sợ hăi tự khiển trách của lương tâm và đối với người có giới đức luôn luôn đem lại tiếng thơm và hạnh phúc.

 âu ta có thể t́m thấy được bậc thang sánh được với giới đức để có thể trèo lên thiên đàng được, hoặc ở đâu ta có thể t́m thấy một ngưỡng cửa để vào được thành phố Níp-bàn?

Như vậy giới đức có thể được biết đến như điều thuận lợi tối thượng, làm nguyên nhân cho mọi ân đức đặc biệt, và tước đoạt được sức mạnh nơi mọi khiếm khuyết.

Khi đức Thế Tôn đă giải thích về những lợi thế của giới đức mang lại ngài nói thêm. “Tùy thuộc vào[13] giới đức này mà ta chứng đắc được thiên đàng” và khi đă giải thích điều này như vậy ngay lập tức ngài đă thực hiện một bài nói chuyện về Thiên Đàng như sau: “Thiên đàng là nơi hoàn toàn thoải mái, sung sướng, đáng mong đợi, và hoàn toàn hạnh phúc; ở đó có nhiều điều thích thú và chúng sanh thường xuyên chứng đắc niềm vui sướng vô tận.

* Dh. 54. A. I 226. Ja iii 291; Miln 333, DA 56.

** Dh 55, và v́ đă bỏ qua ở trên A I 226

Các vị chư Thiên của bốn Đại Thiên Vương nhận được hạnh phúc thần tiên, niềm vui sướng thần tiên kéo dài cả chín mươi trăm ngàn năm,[14] các vị chư Thiên thuộc cơi Tam Thập Tam Thiên cũng nhận được niềm hạnh phúc thần tiên đó kéo dài cả ba vạn triệu và sáu mươi trăm ngàn năm.[15] Như vậy ngài đă thực hiện một bài nói chuyện bắt đầu với điều có liên quan với những ân đức đặc biệt nơi thiên đàng. [122] C̣n nữa, sau khi đă thử thách họ với bài thuyết giảng về thiên đàng như vậy, ngài lên tiếng: “Ấy vậy thiên đàng này lại vô thường, không tồn tại vĩnh cửu, ở đó ta chẳng c̣n ước muốn, chẳng c̣n chấp thủ điều chi nữa.”, và ngài lại tŕnh bày chi tiết về nỗi hiểm hoạ, tính phù phiếm, điều đồi bại do dục lạc đem lại và những lợi thế do xuất ly những điều kể trên mang lại,[16] ngài cũng thực hiện một bài thuyết giảng về Phật Pháp, mà đỉnh cao của Pháp chính là bất tử.

Khi ngài đă nói chuyện về Phật Pháp với một số lượng công chúng đông đảo đến như vậy, và đă khiến cho một số đông đă xuất gia quy y phật. Và một số đă chăm chú thực hiện năm giới. Và một số lại thiết lập Thánh quả Nhập Lưu và một số nơi Thánh quả Nhất Lai, số khác lại thiết lập nơi Thánh quả Bất Lai một số khác trong bốn Thánh quả, một số khác chứng đắc tam minh, số khác đạt đến lục thắng trí. Số khác lại thiết lập được bát chứng đắc, đứng lên khỏi chỗ ngồi ngài rời khỏi thành phố Ramma và tiến vào trụ tŕ tại ngôi chùa Sudassana. Theo như lời kể lại rằng:

IIB 189. Rồi các chúng sanh sau khi đă tiếp đăi vị lănh đạo thế gian với Tăng Đoàn của ngài, liền tiến đến gặp vị đạo sư Dpaṅkarā để được quy y Phật.

190. Đức Như Lai kiến lập một số người xuất gia quy y Phật, kiến lập năm giới cho một số khác, số khác nữa được kiến lập Thập Giới.

191. Đối với một số người ngài ban Sa-môn với bốn Quả tối thượng; số khác với tuệ phân tích. Một số khác với nhiều điều không thể sánh bằng.

192. Đối với một số chúng sanh vĩ đại ngài ban bát thiền chứng huy hoàng, nơi một số người ngài đạt đến tam minh và số khác lại là lục thắng trí.

193. Theo cách thức như vậy vị đạo sư động viên đám đông. Với cách thức này Giáo Pháp của đấng bảo vệ cơi trần đă được lan rộng khắp nơi.

194. Đạo sư Dpaṅkarā với xương hàm mạnh phi thường, vai rộng, Ngài đă tạo cho nhiều người thắng vượt, ngài đă giải thoát chúng sanh khỏi ranh giới xấu xa.

Nhận thấy chúng sanh có thể được Giác Ngộ cho dù họ có ở xa đến hàng ngàn do tuần (yojana) vị ẩn sĩ vĩ đại này đă cất công đến cùng họ để biến họ thành Giác Ngộ.

189. Trong trường hợp này họ có nghĩa là những cận sự nam là thần dân thành phố Ramma.

189. NơI nương tựa hay quy y[17] ở đây được hiểu như là nơi trú ngụ. Kẻ chạy lại nơi nương tựa đó. Ở nơi đó phải chen chúc nhau, phải chiến đấu, phải tan ră. Như vậy đây quả thật là nơi nương tựa. Tam bảo đó là ǵ vậy? Khi chúng sanh chạy lại với Tam bảo đẻ t́m nơi nương tựa, nhờ vào chính hành vi chạy lại nương tựa[18] đó, đă tiêu hủy và đánh tan sợ hăi, buồn khổ ranh giới xấu xa và các phiền năo. Như vậy điều này ta gọi là nơi nương tựa. Và người ta đă đề cập đến vấn đề này như sau:

Người nào quy y với Đức Phật t́m nơi nương tựa sẽ không phải sa vào khổ cảnh, sau khi đă từ bỏ xác thân nhân lọai, họ sẽ được gia nhập với tầng lớp các vị thần tiên.[19]

[123] Bất kỳ ai quy y với Pháp t́m nơi nương tựa....[20]

Bất kỳ kẻ nào quy y với Tăng Đoàn t́m nơi nương tựa... sẽ được gia nhập với tầng lớp các vị thần tiên1 trên trời.

Tâm trạng nổi lên khiến ta có được những hiện trạng có Tam Bảo trợ giúp được gọi là quy y T́m nơi nương tựa. Chúng sanh có được hiện trạng này ta gọi là kẻ chạy lại t́m nương tựa nơi cửa Phật. Như vậy ba điều này nên được hiểu như vậy: nơi cư trú, quy y nơi cư trú (nương tựa) việc chạy lại t́m nơi nương tựa.[21]

189.Người đó có nghĩa là Phật Dīpaṅkarā. Sở hữu cách (tassa) nên được hiểu theo nghĩa đối cách “Họ chạy lại đó t́m kiếm nơi nương nhờ” cũng là một cách giải thích.

189. (Nơi người) đạo sư có nghĩa là nơi đạo sư.[22]

190. Một số khi chạy lại t́m nơi nương tựa: ư nghĩa ở đây được ngài kiến lập là một số cá nhân quy y t́m nơi nương tựa. Ta nên hiểu ư nghĩa ở đây là nhằm ám chỉ đến thời gian quá khứ, cho dù có đề cập đến ư nghĩa ở hiện tại. Đây cũng là ư nghĩa được áp dụng cho những trường hợp c̣n lại. (trong những đoạn kệ khác) “Một số chúng sanh[23] t́m đến nơi nương tựa” cũng là một cách giải thích. Và đây là điều vô cùng ư nghĩa.

190. Một số chúng sanh được kiến lập với ngũ Giới có nghĩa là ngài kiến lập một số chúng sanh với năm giới trong việc tránh xa.

190. Một số chúng sanh khác được kiến lập với thập giới có nghĩa là ngài kiến lập một số cá nhân khác nơi thập giới. “Một số chúng sanh được (kiến lập với mười pháp thiện.” Cũng là một cách giải thích. Ư nghĩa của điều này là ngài tạo ra một số chúng sanh để hiểu được có mười pháp được coi như là thập thiện nghiệp.”[24]

191. Đối với một số người ngài kêu gọi gia nhập Sa môn: Về điểm này, theo như chân đế tuyệt đối th́ Thánh Đạo được gọi là bậc Sa môn. Như người ta nói rằng: “Và hỡi các vị tỳ khưu, bậc Sa môn là ǵ vậy? Đó chính là Bát Thánh Đạo vậy, tức là chánh kiến...chánh định. Hỡi chư vị tỳ khưu, điều này được gọi là bậc Sa môn.”*

191. Bốn Thánh Quả tối thượng: ư nghĩa ở đây ám chỉ bốn quả tuyệt đối[25] phân từ “ma” chỉ là liên từ nói kết giữa hai từ. Người ta nói rằng ở đây có chuyển đổi giống. Ư nghĩa ở đây là ngài ban cho một số chúng sanh bốn Thánh Đạo, bốn thánh quả Sa môn để minh chứng ân đức[26] của họ.

191. Có một số điều không ǵ sánh nổi. Có nghĩa là đối với một số chúng sanh ngài ban cho bốn điều duy nhất đó chính là bốn tuệ phân tích.

192. Với một số chúng sanh là chứng đắc huy hoàng, có nghĩa là đối với một số chúng sanh ngài ban cho bát thiền chứng chỉ xuất hiện thông qua những phấn đấu tiêu diệt các pháp cái.

192. Tam minh nơi một số (chúng sanh) có nghĩa là tuỳ theo ân đức (ngài dành cho) một số chúng sanh tam minh bao gồm thiên nhăn minh, Túc mạng minh, Lậu tận minh.

* Xin đọc S. v. 25 được trích trong DA, 158.

192. Dành cho lục thắng trí có nghĩa là ngài ban tặng cho một số chúng sanh sáu thắng trí.

193. Theo cách thức này có nghĩa là theo phương pháp này, theo thứ tự sau.

193. Số đông có nghĩa là một đám đông người.

193. Được động viên có nghĩa là ngài động viên.[27] Ta phải hiểu rằng người ta nói với biến đổi các th́, trong những câu tương tự như vậy kể từ nay ư nghĩa phải được coi như chỉ nhằm diễn đạt quá khứ mà thôi.

193. Nhờ vậy mà được lan truyền rộng răi có nghĩa là nhờ vào lời động viên và thuyết giảng mà Giáo Pháp của Phật Dpaṅkarā được lan truyền rộng răi, sâu rộng và một cách đáng kể.

[124] 194. Hàm có sức mạnh phi thường có nghĩa là: người ta kể lại rằng cả hai hàm của vị Đại Nhân đều tṛn trịa giống như mặt trăng vào ngày 12 trong nửa đầu của tháng. Người nào có hai hàm mạnh mẽ chính là có sức mạnh phi thường nơi hai hàm cũng được gọi là hàm mạnh như hàm sư tử vậy.[28]

194. Vai rộng có nghĩa là người nào có cặp vai giống như cặp vai của con ḅ mộng được gọi là có vai rộng[29]; ư nghĩa ở đây là khi cặp vai của người nào tṛn trịa[30] cân đối. Cặp vai thật dễ thương trông giống như một cặp trống vàng vậy.

194. Hồng danh là Dpaṅkara có nghĩa là với hồng danh gọi là Dīpaṅkara

194. Giúp nhiều người vượt qua có nghĩa là giúp nhiều chúng sanh để vượt qua[31] lại được chính Đức Phật Dīpaṅkara hướng dẫn.

194. Người đó được giải thoát có nghĩa là người đó được giải thoát.[32]

194. Khỏi cảnh xấu xa có nghĩa là khỏi khổ cảnh[33] - đối cách hiểu theo nghĩa một xuất xứ cách.

195. Đến đây, nhằm vạch rơ những ư nghĩa một hiện trạng tạo ra khả năng vượt qua khỏi và tự thoát khỏi, các đoạn kệ cho biết “chúng sanh nào có thể được tỉnh thức (Giác Ngộ)” Trong trường hợp này “chúng sanh nào có thể được tỉnh thức. Có nghĩa là “một thế hệ có thể được Giác Ngộ hay đây chính là một cách hiểu mà thôi.”

195, Nhận thấy có nghĩa là hoặc là thấy với Phật nhăn của Đức Phật Dīpaṅkarā hoặc với Biến nhăn.[34]

195. Ngay cả cách xa cả trăm ngàn do tuần (yojana) có nghĩa là đang sống cách xa ngay cả hàng trăm hàng ngàn do tuần (yojana) vô số kể. Và điều này cũng phải được coi như là được đề cập đến mười ngàn cơi ta bà thế giới.

Người ta nói rằng sau khi đă chứng đắc quả Phật th́ đạo sư Dīpaṅkara đă trải qua bảy tuần liên tiếp dưới gốc cây Bồ Đề. Trong tuần lễ thứ tám, sau khi đă đồng ư với việc thỉnh cầu của Vị Đại Phạm Thiên liên quan đến Giáo Pháp, ngài đă Chuyển Pháp Luân ngay trong ngôi chùa Sunanda và đă khiến cho một trăm vạn triệu chư Thiên và con người được nếm hương vị Giáo Pháp. Đây là lần thấu triệt Pháp hội đầu tiên): Rồi vị đạo sư, thấu hiểu được mức trưởng thành nơi trí của con trai ḿnh, là Samavattakhandha Usabhakkhandha,[35] ngài đă phong con trai đó trở thành người tối thượng trong số các Thinh văn đệ tử của ngài và giảng dạy Phật Pháp tương tự như những lời giáo giới Rāhula, ngài đă khiến cho chín mươi vạn triệu chư Thiên và chúng sanh thấu triệt Pháp.[36] Đây là lần Thấu Triệt Pháp hội thứ hai. C̣n nữa, sau khi đă thực hiện được Phép song thông ngay dưới gốc cây Acacia tại cổng thành Amaravatī và đă giải thoát một lượng chúng sanh đông đảo khỏi mọi gông cùm, Đức Phật Dīpaṅkara đă ngồi xuống, bao quanh ngài là một đám đông các vị chư Thiên giống như ánh sáng mặt trời chói chang, ngài ngồi trên một tảng đá[37] được trang hoàng cẩn thận dưới bóng cây dễ thương ngay tại gốc cây Pāricchattaka[38] trong nơi trú ngụ các chư Thiên và của vị Tam Thập Tam. Khiến cho chính mẹ của ngài thành một người đàn bà tuyệt vời nhất, đó là Bà Sumedhā, là người mang phỉ lạc cho toàn thể đám ông các vị chư Thiên. Đức Phật Dīpaṅkara chư Thiên các chư Thiên, được toàn thể thế gian này biết tiếng như là một vị chư Thiên tinh luyện[39] thuyết giảng Tạng Vi Diệu Pháp trong ṿng bảy bộ, lại cho chín mươi ngàn vạn triệu chư Thiên được nếm hương vị Phật Pháp. Đây là lần Thấu triệt Pháp hội thứ ba. Do đó người ta nói rằng:

IIB.196. Vào lần thấu triệt Pháp hội ầu tiên Đức Phật Dpaṅkara đă Giác Ngộ một trăm vạn triệu sanh linh; vào lần thấu triệt Pháp hội thứ hai vị bảo vệ đă thức tỉnh được chín mươi vạn triệu chúng sanh.

196.Và khi Đức Phật Dīpaṅkara đă thuyết pháp trong nơi cư trú thuộc các chư Thiên lại diễn ra lần Thấu Triệt Pháp hội thứ ba, khiến cho chín mươi ngàn vạn triệu chúng sanh Giác Ngộ.

[125] Và Đức Phật Dīpaṅkara lại có ba Tăng Đoàn làm đồ đệ. Tăng Đoàn đầu tiên gồm một trăm ngàn vạn triệu có mặt trong ngôi chùa Sunanda.

IIB. 198. Đạo sư Dīpaṅkarā có ba Tăng Đoàn; cuộc tụ họp đầu tiên lên tới một trăm ngàn vạn triệu chúng sanh.

 Rồi chính ngài với mười sức mạnh, được khoảng bốn trăm ngàn[40] Tỳ khưu vây quanh, đă tiến hành đi từ làng này sang làng khác, qua các khu chợ búa, các thành thị và giúp đỡ rất nhiều người. Dần dà ngài tiến đến một thị trấn kia có một ngọn núi hết sức thơ mộng được gọi là Chỏm Đá Nārada. Chỏm đá này được một đám rất đông chúng sanh kính lễ, nổi tiếng trên khắp thế gian này có các chư Thiên thường lui tới, họ rất sợ v́ là một đỉnh núi làm nơi một số loại cây và loại hoa thơm ngát hương mọc rất nhiều, một chỏm đá có rất nhiều đoàn thú hoang dă lui tới. Người ta kể lại rằng toàn bộ vùng đó có một Dạ-xoa (Yakkha) tên là Nārada thường hay lui tới và đám rất đông các chúng sanh đó mỗi năm một lần phải tổ chức tế sống một mạng người cho Dạ-xoa (Yakkha).

Thế rồi sau nhận thấy dân chúng chứng đắc những ân đức đặc biệt, đức Phật Dīpaṅkara đă sai đến đây Tăng Đoàn các vị tỳ khưu từ khắp tứ phương đến. Một ḿnh ngài, không có bất kỳ một người nào hộ tống, ngài đă leo lên núi Nārada, trong ḷng tràn ngập từ bi sâu đậm, để có thể xua đuổi Dạ-xoa (Yakkha) ra khỏi[41] ngọn núi đó. Rồi con yêu tinh ăn thịt người tỏ vẻ rửng rưng với chính hạnh phúc của ḿnh, rất tài t́nh trong việc sát hại chúng sanh, không thể chế ngự được cơn thịnh nộ[42] của ḿnh, tâm Dạ-xoa tràn ngập bực tức[43] muốn xua đuổi ngài Như Lai Thập Lực bằng làm cho ngài khiếp sợ, hắn liền khiến ngọn núi rung chuyển. Nhưng đang khi hắn làm cho ngọn núi rung chuyển để làm cho ngài khiếp sợ, th́ nhờ vẻ oai nghiêm[44] của Đức Phật Dpaṅkara khiến cho ngọn núi đang rung chuyển xụp đổ ngay lên chính đầu tên Dạ-xoa vậy. Bởi vậy dạ xoa vô cùng khiếp sợ và nghĩ, “Thế th́ ta sẽ phóng hoả ngọn núi.” Và hắn đă tạo ra một đám lửa lớn nh́n không cũng phải khiếp sợ. V́ gió thổi ngược lại,[45] nên đám lửa chỉ đem lại thống khổ cho chính hắn, v́ không thể thiêu rụi bất kỳ một miếng vải nhỏ y cà sa của Đức Phật Dīpaṅkara. Nhưng yakkha Dạ xoa suy nghĩ: “Không hiểu ta đă thiêu rụi vị Sa môn hay chưa [46]?”

Ngó quanh hắn nh́n thấy vị Sa môn Như Lai Thập Lực, giống như mặt trăng mùa thu vô tỳ vết đem lại vui sướng cho mọi chúng sanh (và quan sát thấy) Đức Phật Dīpaṅkara giống như đang ngự trên một đoá hoa sen trên mặt hồ nước mát lạnh, dạ-xoa suy nghĩ, “Ôi, vị Sa môn này đầy vẻ uy nghi. Bất kỳ điều hại nào ta gây ra cho ngài đều dội ngược lại về phía ta [47] Nhưng ngoài vị Sa môn này ta chẳng c̣n bất kỳ vẻ oai nghi nào khác cũng như nguồn trợ lực nào khác. những rung chuyển trên mặt đất vẫn ứng yên lại được hỗ trợ trở lại chỉ bằng mặt đất mà thôi, Nào ta sẽ đến qui y nơi vị Sa môn này”.

Sau khi đă nghĩ như vậy, hắn liền qú sụp đầu xuống chân Đức Phật Dīpaṅkara, gót chân ngài được trang trí với nhiều tướng bánh xe, và nói rằng: “Thưa ngài, việc phạm tội lỗi này đă chiến thắng ta.” Thế rồi dạ xoa (yakkha) chạy lại t́m nương tựa nơi Đức Phật Dīpaṅkarā.

Sau đó Đức Phật Dīpaṅkara đă nhanh chóng thuyết pháp cho dạ xoa. Khi kết luận bài thuyết pháp chính dạ xoa (yakkha) được kiến lập thánh quả nhập lưu cùng với mười ngàn dạ xoa khác nữa. Người ta kể lại rằng kể vào ngày hôm đó các cư dân sống trong toàn cơi Ấn độ [126] mỗi người đều dẫn theo một người khác từ khắp các làng mạc để tế lễ cho ngài (dạ xoa), đồng thời họ cũng mang theo rất nhiều vừng mè, gạo xay, đậu tằm, đậu tây và đậu nhỏ, rồi bơ đặc, bơ tươi, phô mai, dầu, mật, mật đường v.v... rồi ngày hôm đó dạ xoa đă dành cho Đức Phật Như Lai Thập Lực toàn bộ những ǵ dân chúng đem đến và ngài đă trả lại toàn bộ những dầu mè v.v... Đă được chuyển đến dâng cúng.

Rồi sau khi đă để cho những người này được xuất gia quy y bằng cách nói “Thiện lai Tỳ khưu” (đây là công thức) xuất gia, vị đạo sư khiến cho họ được kiến lập nơi bậc A-la-hán chỉ trong ṿng bảy ngày. Vào đêm trăng rằm tháng Magha Đức Phật Dpaṅkara ứng giữa một đám đông một trăm ngàn các vị tỳ khưu đă cùng nhau tụng Giới bản trong một tập thể đă được thiết lập bốn chi.[48] Bốn chi đó được gọi là: Tất cả đều là: “Thiện lai tỳ khưu.”[49]; tất cả đều chứng đắc lục thắng trí; tất cả đều đến mà không phải báo trước; và ngày trai giới là ngày rằm (trong hai tuần có ánh trăng.)[50] Đây là bốn chi và đây cũng là tăng đoàn thứ hai. Do đó người ta nói rằng:

IIB 199. Lại nữa, khi vị Chiến Thắng đă rút khỏi vùng núi (tách khỏi) Nārada, ta thấy xuất hiện một trăm ngàn người, đă đoạn tận các lậu hoặc, các vết nhơ đă biến mất.

199. Trong trường hợp này đă rút hỏi vùng núi có nghĩa là đă ra đi sau khi rút khỏi đám đông các vị tỳ khưu.

199. Cùng đến với có nghĩa là tụ họp lại.

Và khi các cư dân vùng Ấn độ đang tổ chức một lễ hội hàng năm trên đỉnh núi[51] chính lúc đó Đức Phật Dīpaṅkara, lănh tụ thế gian, đă đến cư trú qua mùa mưa trên ngọn núi có tên là Sudassana. Người ta kể lại rằng các chúng sanh đă qui tụ lại để mừng lễ hội đó. Khi nh́n thấy đức Như Lai Thập Lực, họ nghe một bài thuyết giảng về Giáo pháp của ngài. Cảm thấy măn nguyện và hài ḷng họ đă xuất gia. Vào ngày Đại Lễ Tự Tứ [52] Đạo sư lại tổ chức một buổi thuyết pháp phù hợp với t́nh trạng tâm của họ. khi đă lắng nghe lời thuyết pháp đó và đă quán xét về Pháp hành [53] (construction) và họ đă chứng đắc A-la-hán bằng nhận tuệ giác từ từ và thánh đạo tuần tự. Rồi họ đă mời Đạo sư cùng với chín mươi ngàn vạn triệu vị tỳ khưu. Đây là tăng đoàn thứ ba, Do đó có người nói rằng:

IIB 200. Trong suốt thời gian vị anh hùng vĩ đại đang cư trú trên núi Sudassana vị đại ẩn sĩ được mời” với chín mươi ngàn vạn triệu vị tỳ khưu.

201. Vào thời đó ta là một vị ẩn sĩ búi tóc, rất nghiêm khắc trong những việc khổ hạnh, di chuyển trên không. Rất rành ngũ thắng trí.

Đoạn kệ này được viết nhằm giải thích về các vị tiền bối[54] Trong tập Biên Niên Kư về Đức Phật Dīpaṅkara trong tập Atthasālinī. Đó là tập Chú giải về tác phẩm Dhammasaṅgan.[55] Nhưng trong tập Biên Niên kư sự về Đức Phật không có lư do tại sao điều đó lại không thích hợp. Tại sao thế? Điều này đă được nói tới ở trên trong chương bản tường tŕnh về Sumedha[56]

Đang khi Đức Phật Dīpaṅkara đang thuyết pháp đă diễn ra cuộc thấu triệt pháp hội cho mười ngàn và hai mươi ngàn người. Không có xảy ra kết thúc những cuộc thấu triệt pháp hội cho một vài ba người.[57] chính v́ thế Giáo Pháp của Đức Phật Dīpaṅkarā đă trở nên phổ biến rộng răi nơi nhiều người. Do đó có người nói rằng:

[127] IIB 202. Đă diễn ra việc thấu triệt Pháp hội với mười ngàn và hai mươi ngàn chúng sanh. C̣n thấu triệt do một hai người là điều không thể đếm được bằng tính toán.

202. Trong trường hợp này với mười và hai mươi có nghĩa là mười ngàn hay hai mươi ngàn người.

202. Cuộc thấu triệt Pháp hội có nghĩa là hiểu thấu đáo Pháp Tứ Điệu Đế.

202. Do một hoặc hai có nghĩa là do một cũng như hai. Ư nghĩa ở đây là theo cách thức bắt đầu như vậy (thấu triệt) được thực hiện với một, hai, ba hay bốn, mười người và vô số kể. Như vậy, v́ sự thấu triệt là vô số kể (theo con số.) và tính chất to lớn của việc chứng đắc đă được nổi tiếng rộng khắp, và cách thức[58]. Được biết đến trong số nhiều người cũng như nơi các vị chư Thiên đă diễn ra thành công trong việc tu luyện tăng thượng giới,v.v...Và sự tiến tới chánh niệm và chánh định, v.v... Do đó người ta nói rằng:

IIB. 203. Giáo Pháp được tinh luyện kỹ càng của Đức Phật Dīpaṅkara đă rất nổi tiếng rộng khắp nơi chúng sanh, giáo pháp này rất thành công và phát triển rộng khắp.

203. Trong trường hợp này được tinh luyện kỹ càng có nghĩa là được tinh luỵên một cách tinh vi do Đức Phật Dīpaṅkara thực hiện và tinh luyện.

Bốn trăm ngàn vị tỳ khưu đă chứng ắc Lục Thắng trí và có được sức mạnh thần thông đang tụ tập chung quanh Đức Phật Dīpaṅkara là đạo sư thuộc mọi thời đại.Và vào thời đó tất cả những ai là hữu học nhưng đă ra đi vào cơi thiên hằng họ thường bị coi thường - Ư định ở đây là chỉ những ai đă đoạn tận các lậu hoặc và chứng đắc hoàn toàn Níp Bàn. Chính v́ thế Giáo Pháp của Đức Phật Dīpaṅkara được triển nở đầy đủ, rất thành công, chiếu rọi liên tục với các vị tỳ khưu đă đoạn tận các lậu hoặc. Do vậy người ta nói rằng:

IIB. 204. Có Bốn trăm ngàn người đă chứng đắc Lục thắng trí. Có sức mạnh thần thông to lớn, luôn vây quanh Dpaṅkarā, là đấng thế gian giải.

205. Coi thường những ai là hữu học vào thời gian họ từ giă cuộc sống này như là các chúng sanh không thể chứng đắc được mục tiêu của ḿnh.

206. Thế giới đang triển nở tối đa chiếu sáng liên tục nơi các vị A-la-hán là những người đă luôn kiên tŕ và đă đoạn tận các lậu hoặc và trở thành vô tỳ vết.

204. Trong trường hợp này bốn trăm ngàn có nghĩa là được thể hiện nơi con số; để chứng tỏ cho thấy rằng như vậy các vị tỳ khưu này đă là một con số cụ thể. Chứng đắc lục thắng trí, và sức mạnh thần thông ư nghĩa ở đây nên được hiểu như vậy. Hay thể chủ cách[59] nên được hiểu theo nghĩa sở hữu cách[60], những ai có được sáu thắng trí, và tiềm năng lực thần thông to lớn.

205. Liên tục có nghĩa là thường xuyên liên tục. Ư định ở đây là họ bao vây xung quanh ngài với Thập Lực và không rời bỏ Đức Phật bất luận họ phải đi đến âu.

205. Vào thời điểm đó có nghĩa là vào lúc đó[61]. Đối với từ ‘samaya’ (thời gian, v.v...) có tới chín nghĩa bắt đầu với samavāya (biến cố). như người ta nói rằng:

[128] Đó là biến cố, sát na, thời gian, nhiều, nguyên nhân, và quan điểm, thu nhận được, và là từ bỏ và thấu triệt, có nghĩa là điều cần được xem thấy.*

Ở đây ta nên hiểu là thời gian: ư nghĩa là: vào thời điểm đó.

205. Là các Chúng Sanh có nghĩa là con người.[62]

205. Vẫn chưa chứng đạt được mục tiêu có nghĩa là: những ai chưa đạt đến được, chưa đạt được mục tiêu của ḿnh - “mục tiêu” (manasa) đó là một biểu hiện tham ái. và biểu hiện tư duy và biểu hiện bậc A-la-hán. Như người ta nói rằng: mục tiêu như là cái bẫy đi xuyên qua cả không gian” ở đây mục tiêu được nói đến như là tham ái. Về điểm này người ta nghĩ rằng, “ư, tâm linh, mục tiêu, trái tim, sự sáng chói.” về vấn đề này cũng có thể là bậc A-la-hán. “Làm thế nào, được nổi tiếng nơi mọi người, một người là hữu học có thể kết thúc thời gian nghiệp chướng của ḿnh mà vẫn chưa đạt được mục tiêu? Nhưng ở đây ta chỉ muốn nói đến bậc A-la-hán. Chính v́ thế ư nghĩa ở đây là: Thánh quả của bậc A-la-hăn vẫn chưa thể đạt được.[63]

205. Những người hữu học. Hữu học được hiểu theo nghĩa nào? Hữu học hiểu theo nghĩa chứng đắc Phật Pháp đối với những người mới bắt đầu và điều này được đề cập đến như sau: “Thưa ngài, người mới hữu học đến mức độ nào? Các vị tỳ khưu, ở đây một vị tỳ khưu là người chứng đắc hữu học chánh kiến... có được chánh định của người mới hữu học.”* Hơn thế nữa, những người mới hữu học tự tu luyện chính ḿnh. Và có lời nói rằng: “Hỡi các vị tỳ khưu, người mới hữu học tự tu luyện chính ḿnh, và như vậy người đó là người tự luyện tập. Chính v́ thế người đó được gọi là hữu học. Và người đó tu luyện điều ǵ vậy? Người đó tự tu luyện tăng thượng giới, tu luyện tăng thượng tâm, và luyện tập cho được tăng thượng tuệ. Người đó tự tu luyện cho chính ḿnh v́ thế ta gọi họ là người mới hữu học[64]**

* VA o 106tt. DA 31, M I, 7; SA I 9; AA i. 11; KhA 104 UdA 19. Pts A iii 530 Asl 57.
Vin I 21, S i 111, trích trong UDA 367. Ita 61, Asl 140. v.v...
Dhs 6, Vbh 87.
S. i 121 trích Pháp cú kinh (Dhammapada) I 432, Asl 140. việc ám chỉ ở đây là Về Godhika người đă tự vẫn trước khi đạt đến bậc A-la-hán, nhưng tuy nhiên ngài cũng đạt đến Níp-bàn.

* S. v. 14
** A i 231

206. Triển nở một cách toàn diện có nghĩa là đâm chồi nẩy lộc một cách mỹ miều.

206. Lời (pāvacana) có nghĩa là lời tán dương (vacana). Hay là lời (pavavana) là lời (vavana) làm cho phát triển.. từ (pāvacana) chỉ đơn giản là từ (pavacana). Ư nghĩa ở đây là Giáo Pháp.

206. Chiếu sáng có nghĩa là soi rọi một cách sáng láng. Soi rọi liên tục.[65]

206. Liên tục có nghĩa là vĩnh viễn. “chiếu rọi trên thế gian này cùng với các chư Thiên” cũng thường được đọc thấy.

Thành phố của Đức Phật Dīpaṅkara được gọi là Rammavati; cha của ngài, một vị vua quí tộc sát đế lị có tên là Sudeva, mẹ ngài là Sumedhā; Sumaṅgala và Tissa là hai tối thượng nam thinh văn của ngài; Thị giả của ngài tên là Sāgata; hai tối thượng nữ thinh văn của ngài là Nandā và Sunadā; Cây Bồ đề của Phật tổ là cây Pipphali[66]. Ngài cao khoảng tám cubit. Tuổi thọ của ngài vào khoảng một trăm ngàn năm.[67]

Nhưng v́ lư do ǵ ta chứng tỏ cho thấy các thành phố v.v... là nơi họ được sinh ra? Người ta nói rằng:Không ai biết thành phố nơi cua người nào đó sanh ra th́ cũng chẳng biết cha mẹ người đó là ai, nếu không hay biết thành phố nơi sanh, cũng như không biết ǵ về cha mẹ người đó, chẳng phải người đó là một chư Thiên hay Thiên Chủ (Sakka) hoặc Ma-vương hay Phạm thiên hoặc bất kỳ một chư Thiên nào khác. [129] Nghĩ rằng: Một điều lạ lùng như vậy cũng chỉ là chuyện b́nh thường thôi.[68] Có thể tưởng rằng người đó cũng không đáng được ta lắng nghe. Chính v́ thế sẽ chẳng có thấu triệt pháp diễn ra; nếu không có thấu triệt diễn ra th́ những lời của đức Phật sẽ trở thành vô dụng và Giáo Pháp chẳng là nhân tố dẫn đến giải thoát. Chính v́ thế cách phân định ranh giới thành phố là nơi sanh v.v... của tất cả Chư Phật nên được nêu ra. Do vậy người ta nói rằng:

IIB207. Rammavatī là tên thành phố, Sudeva[69] là tên của một vị Quí Tộc Sát Đế Lị, Sumedhā là tên của mẹ ngài Dīpaṅkara là một vị đạo sư.

 213. Sumaṅgala và Tissa là tối thượng nam thinh văn, Sāgata là tên của thị giả Đức Phật Dīpaṅkara đạo sư.

 214. Nandā và Sunandā là tối thượng nữ thinh văn. Cây Bồ đề của Đức Phật đó được cho là cây Pipphal

 216. Vị đại hiền triết Dīpaṅkara cao tám mươi cubit. Ngài toả sáng như một cây ánh sáng, như cây vương đế sāla đang đâm chồi xum xuê.

217. Tuổi thọ của vị Đại ẩn sĩ này vào khoảng một trăm ngàn năm. Sống lâu đến như vậy nên ngài tạo cho biết bao nhiêu người được vượt qua khổ ải.

 218. Sau khi được Phát sáng giáo pháp và tạo cho nhiều chúng sanh vượt qua được triền cái. Ngài chiếu sáng rực giống như một đám lửa. Cùng với các đồ đệ của ngài, ngài đă tịch diệt.

219. Và Sức Mạnh thần thông đó và đám đồ đệ vĩ đại đó và những kho báu nơi chân ngài toàn bộ đều biến mất. Có phải toàn bộ những pháp hành đều trống rỗng cả chăng?

207. Trong trường hợp này Sudeva tên của một Quí Tộc Sát Đế Lị có nghĩa là Sudeva là tên của cha ngài, là đế vương Quí tộc Sát Đế Lị.

Người mẹ có nghĩa là người sinh thành[70]

214. Pipphali có nghĩa là cây Bồ đề là một loại thuộc họ Ficus religiosa[71]

216. Cao tám mươi cubit có nghĩa là chiều cao khoảng tám mươi cubit.

216. Giống như một cây ánh sáng có nghĩa là giống như một cây ánh sáng toả sáng với các cuộn[72] ánh sáng và chùm hoa. Ngài đă được phú cho với một h́nh hài hoàn hảo theo chiều cao và chung quanh. Thân h́nh của ngài được trang điểm với Ba mươi hai tướng đại nhân và tám mươi tướng phụ. Đang khi Đức Phật c̣n sống trên đời này, ngài toả sáng, có nghĩa là ngài phát sáng[73] giống như một cḥm sao chói lọi với muôn vàn ánh lửa và những ánh sáng lung linh dưới ṿm trời.

216. Giống như một cây vương đế đang đâm chổi xum xuê. Có nghĩa là: giống như một cây Sāla vương đế đang trổ bông với muôn vàn hoa trái nơi các chồi non và giống như cây Trầm Hương, cao hàng trăm do tuần (yojana) với muôn vàn hoa đang hé nở. Cũng giống như vậy Đức Phật cao tám mươi cubit toả sáng liên tục.

217. Một trăm ngàn năm có nghĩa là tuổi thọ của ngài kéo dài khoảng một trăm ngàn năm.

217. Sống lâu đến như vậy có nghĩa là sống một khoảng thời gian lâu đến như vậy.

[130] 218. Giúp cho chúng sanh vượt được thác ghềnh có nghĩa là chính ngài đă khiến cho chúng sanh vượt qua được[74] “khiến cho con người lẫn chư Thiên vượt qua được” cũng là một cách dịch. Ư nghĩa của câu này là thế gian này cùng với các chư Thiên.[75]

219. Và sức mạnh thần thông tiềm tàng đó có nghĩa là: tính cách tráng lệ đó, tính cách uy nghiêm đó.

219. Đoàn tuỳ tùng có nghĩa là những người đi theo tuỳ tùng[76].

219. Toàn bộ đă tan biến hết: ư nghĩa ở đây là những đặc tính tráng lệ đó, được nói đến đều đă biến mất hết, đều tan biến đi.

219. Phải chăng toàn bộ những pháp hành đó đều trống rỗng cả sao? Có nghĩa là: Phải chăng tất cả những ǵ là pháp hành đều trống rỗng, hư vô cả hay sao? Ư nghĩa ở đây là: chúng thường xuyên trống vắng bản chất thiết yếu, v.v...

Về vấn đề này, cho dù có phân định ranh giới theo thành phố v.v... Được truyền xuống trong bản văn. Ấy vậy có nhiều chủ đề lại không được để lại, hay đưa ra trước chúng ta cần được giải thích. Có nghĩa là phân định giới hạn bằng con trai, phân nh bằng người vợ, phân định bằng các toà lâu đài, phân định bằng cuộc sống gia đ́nh, phân định bằng các vũ nữ, phân định ranh giới bằng việc xuất gia, phân định ranh giới bằng cuộc phấn đấu khổ hạnh, phân định ranh giới bằng ngôi chùa, bằng những người trợ lư[77] và lư do nhằm khai sáng những điều đó giống như những ǵ ta đă nói đến ở trên.