NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

CHÚ GIẢI LỊCH SỬ CHƯ PHẬT

                                                              Nguyên Tác: BUDDHAVAMSA
                                                 Bản Pāli Ngữ: BUDDHATTA THERA
                                                Bản Dịch Anh Ngữ: I.B. HORNER
                                               Bản Dịch Việt Ngữ: TỲ KHƯU THIỆN MINH

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XVI. CHÚ GIẢI PHẬT TỔ DHAMMADASSIN

Sau khi Đức Phật Atthadassin, đấng Chánh Đẳng Giác đă chứng đắc Níp Bàn và một đại kiếp giữa thời gian đó cũng đă trôi qua, và khi tuổi thọ các chúng sanh là vô hạn định, nay đă giảm dần lại chính v́ thế tuổi thọ của họ giờ chỉ kéo dài một trăm ngàn năm. Có đạo sư tên là Dhammadassin, là người mang ánh sáng đến cho thế gian, người hướng dẫn thế gian thoát khỏi mọi cấu uế tham, v.v... người lănh đạo duy nhất đă nổi lên trên thế gian này. Cả Đức Thế Tôn này cũng vậy, sau khi đă chu tất pháp Ba la mật, lại được tái sanh nơi cơi Trời Đâu Suất. Khi đă tịch diệt khỏi cơi đó, ngài lại giáng trần trong ḷng Sunandā, là hoàng hậu nhiếp chính của nhà vua tên là Saraṇa, nơi nương tựa (saraṇa) cho toàn thế giới, trong thành phố Saraṇa. Sau mười tháng thọ thai, ngài đă Đản sanh khỏi ḷng mẹ ngài ngay trong nơi vui chơi giải trí Saraṇa giống như ánh trăng rằm xuyên thấu qua những khe hở mây mưa dầy đặc trong mùa mưa. Và ngay từ thuở c̣n rất sớm, khi bậc Đại nhân vừa lọt ḷng mẹ những việc tu luyện không đúng trong Giới Luật đă tự biến mất, và chỉ c̣n các việc tu luyện đúng c̣n tồn tại mà thôi. Chính v́ điều này mà người ta đă đặt tên cho ngài là Dhammadassin (người nhận ra Giáo Pháp hay nhận ra điều chính trực) vào ngày lễ đặt tên. Ngài sống trong hậu cung tám ngàn năm. Ba lâu đài của ngài có tên là Araja, Viraja và Sudassana. Có hơn một trăm ngàn phụ nữ hầu hạ ngài, trong đó đứng đầu là hoàng hậu Vicikolī[407].

Khi ngài đă chứng kiến bốn điềm lạ và cậu con trai của ngài tên là Puññavaḍḍhana đă được hoàng hậu Vicikolī sanh ra, giống như một hoàng tử chư Thiên đă được chăm sóc hết sức cẩn thận, được hưởng hạnh phúc vô tận giống như hạnh phúc chư Thiên, thức dậy vào giữa canh của đêm và ngồi trên nệm hoàng gia, ngài đă nhận ra được sự thay đổi nơi các phụ nữ khi họ đang ngủ. Ngài cảm thấy rùng ḿnh và nổi lên ư tưởng xuất gia đi tu. Ngay lập tức ư định của ngài khuấy động toà lâu đài Sudassana bay bổng lên trời, vây quanh là bốn đạo binh, giống như một mặt trời thứ hai và di chuyển như một toà nhà chư Thiên. [220] rồi đáp xuống gần cây Bồ Đề Kuravaka màu đỏ[408] rồi dừng lại ở đó. Người ta kể lại rằng vị Đại Nhân sau khi đă nhận y cà sa màu vàng nơi tay một vị Phạm Thiên dâng tặng, đă xuất gia và hiện xuống từ phía cung điện, ngài lưu lại gần đó. Toà lâu đài cũng di chuyển trên không và đến đậu trên mặt đất đang khi c̣n giữ nguyên cây Bồ Đề bên trong. Và những người phụ nữ cùng với đoàn tuỳ tùng của họ cũng bước xuống khỏi ṭa lâu đài và đứng đở người ra sau khi đă đi bộ được chừng một nửa gāvuta Đang khi những người phụ nữ cùng với đoàn tuỳ tùng và những người đầy tớ vẫn c̣n đứng yên tại đó, th́ toàn bộ những người đàn ông ều xuất gia theo gương của Ngài, trong số đó có khoảng một trăm ngàn vạn triệu vị tỳ khưu.

Rồi khi vị Bồ Tát Dhammadassin đă quyết định thực hiện cuộc phấn đấu khổ hạnh trong ṿng bảy ngày và đă tham dự một bữa ăn cơm sữa ngọt do hoàng hậu Vicikoḷī[409] dâng cúng. Ngài đă trải qua ngày tạm trú tại khu rừng Badara. Vào ban tối ngài đă nhận tám bó cỏ khô do Sirivaḍḍha, là người bảo vệ khu trồng bắp dâng cúng cho ngài và đang khi tiến lại gần cây Bồ Đề Bimbijāla, ngài đă rải những bó cỏ khô đó xuống một mảnh đất rộng khoảng năm mươi cubit. Thấu triệt được trí toàn tri và thốt ra những lời tuyên bố long trọng, ngài đă trải qua bảy tuần tại đây. Sau khi ngài đă ồng ư nhận lời thỉnh cầu của Vị Phạm Thiên và biết rằng một trăm ngàn vạn triệu các vị tỳ khưu đă cùng xuất gia với ngài đă chứng đắc khả năng thấu triệt Diệu pháp, ngài đă đi bộ mười tám do tuần (yojana) dọc theo con đường dẫn đến Isipatana (nơi cư ngụ của vị tiên tri) chỉ trong ṿng có một ngày vây quanh là các vị tỳ khưu, ngài đă chuyển Pháp Luân tại đó. Rồi đă diễn ra cuộc thấu triệt Pháp hội lần thứ nhất cho một trăm ngàn vạn triệu chúng sanh tham gia. Do vậy có lời nói rằng.

XVI.1. Trong cùng một đại kiếp Maṇḍa Đức Phật Dhammadassin, là người rất nổi tiếng, đă xua tan được bóng tối và tỏa sáng cả trên cơi đời này với nơi cơi các vị chư Thiên.

2. Và với sự chói sáng vô song không ǵ sánh kịp, ngài đă Chuyển Pháp Luân và đă diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội lần thứ nhất cho khoảng một trăm ngàn vạn triệu chúng sanh tham dự.

1. Trong trường hợp này bóng tối đó: có nghĩa là bóng tối đó không liên quan[410] ǵ đến bóng tối hỗn loạn.

Và khi nhà vua tên là Sañjaya tr v́ trong thành phố Tagara đă nh́n thấy mối nguy hiểm do dục lạc đem lại và đă từ bỏ như là một sự an toàn, ngài đă xuất gia cùng với các vị ẩn sĩ. Rồi chín mươi vạn triệu người xuất gia theo gương của ngài. Cho dù toàn bộ những người này đă chứng đắc năm thắng trí và tám thiền chứng. Rồi vị đạo sư Dhammadassin, khi nhận ra những thành tích của họ thể hiện nơi những ân đức đặc biệt đó, liền đi trên không trung và tiến tới phần đất thiền viện của ẩn sĩ Sañjaya đă được kiến thiết, ngài lưu lại trên không. Khi ngài đă diễn giải Giáo Pháp thích hợp cho quyết tâm các vị Ẩn sĩ này đang theo đuổi. Ngài làm nổi dậy Pháp nhăn[411] nơi họ. Lúc này lại xuất hiện một cuộc thấu triệt Pháp hội thứ hai. Do vậy có lời nói rằng:

XVI. 3. Khi Đức Phật Dhammadassin đă hướng dẫn vị ẩn sĩ Sañjaya ra khỏi (tối tăm) đă diễn ra một cuộc thấu triệt Phật Pháp thứ hai cho khoảng chín mươi vạn triệu chúng sanh tham gia.

Và khi Thiên Chủ (Sakka), lănh tụ các vị chư Thiên, đang nóng ḷng muốn nghe Giáo Pháp của đức Như Lai Thập Lực, tiến lại gặp ngài, thế rồi lại diễn ra cuộc thấu triệt Pháp hội thứ ba cho khoảng tám mươi vạn triệu chúng sanh tham gia. Do vậy có lời nói rằng:

XVI 4. Khi Thiên Chủ (Sakka) và đoàn tuỳ tùng của ngài tiến tới gặp ngài dẫn đường ra khỏi (tối tăm) thế rồi lại diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội thứ ba cho khoảng tám mươi vạn triệu chúng sanh tham gia.

Và khi trong thành phố Saraṇa ngài đă để cho hai người em trai vợ, là hoàng tử Paduma và hoàng tử Phussadeva[412] cùng với đoàn tùy tùng của ngài, ngài đă mời bằng một lễ Tự tứ chính thức tinh tuyền[413] trước sự chứng kiến của hơn một trăm vạn triệu các vị tỳ khưu đă xuất gia cùng với ngài vào cuối mùa mưa. Đây là Tăng Đoàn đầu tiên. C̣n nữa, khi Đức Thế Tôn từ cơi chư Thiên đáp xuống, lại xuất hiện một Tăng Đoàn thứ hai có khoảng một trăm vạn triệu người tham gia. Và khi tại thiền viện Sudassana, ngài đă diễn giải về những lợi ích do các ân đức đặc biệt xuất phát từ mười ba hạnh Đầu Đà đem lại, ngài đă kiến lập người đứng đầu nhóm này là một đồ đệ vĩ đại tên là Harita. Thế rồi Đức Thế Tôn đă tụng Giới bổn giữa đám người gồm tới tám mươi vạn triệu người. Do vậy có lời nói rằng:

XVI. 5. Và các vị chư Thiên đă qui tụ được ba Tăng Đoàn những người kiên định đă đoạn tận mọi lậu hoặc, có ḷng vô tỳ vết và an tịnh trong tâm.

6. Khi Đức Phật Dhammadassin đi tới Sanraṇa và qua mùa mưa tại đó, đă diễn ra cuộc Tăng hội gồm tới một trăm vạn triệu chúng sanh[414]

7. Và c̣n nữa, khi Đức Thế Tôn từ cơi chư Thiên xuất hiện nơi cơi con người[415] lại diễn ra một Tăng Đoàn thứ hai có khoảng một trăm vạn triệu người qui tụ lại.

8. Và lại nữa, khi Đức Thế Tôn diễn giải những ân đức đặc biệt về hạnh Đầu Đà, lại diễn ra một Tăng Đoàn thứ ba bao gồm cả tám chục vạn triệu người qui tụ lại.

Lúc bấy giờ vị Bồ Tát của chúng ta, một Đại Nhân, là vị Thiên Chủ (Sakka), vua các vị chư Thiên xuất hiện có các vị chư Thiên vây quanh từ hai cơi chư Thiên, ngài đă kính lễ đức Như Lai với hương trầm chư Thiên và hoa v.v... và với các nhạc cụ chư Thiên. Và vị đạo sư đó cũng đă thọ kư về ngài như sau: “Trong tương lai ngài sẽ trở thành một Đức Phật có hồng danh là Cồ Đàm.”

XVI. 9. Vào thời đó Ta là Thiên Chủ (Sakka), một thí chủ hào phóng.[416] Ta đă kính lễ ngài với các hương thơm chư Thiên, ṿng hoa muôn màu và nhạc cụ chư Thiên.

10. Rồi ngồi giữa đám chư Thiên, ngài [417] thọ kư về ta như sau: “Sau mười tám ngàn đại kiếp nữa người này sẽ trở thành là một Đức Phật.

11. Khi ngài đă quyết định thực hiện cuộc phấn đấu khổ hạnh...” ...mặt giáp mặt với người này.”

12. Khi ta đă nghe tiếng ngài thọ kư, ta càng cảm thấy có chiều hướng thiên về việc tu tập nhiều hơn để chu tất mười pháp Ba la mật.

[222] Và thành phố của đức Phật này có tên là Saraṇa. Vị vua là cha ngài có tên là Saraṇa, mẹ ngài tên là bà Sunandā. Paduma và Phussadeva là hai tối thượng nam thinh văn của ngài, vị thị giả cho ngài tên là Sunetta; Khemā và Sabbanāmā là hai tối thượng nữ thinh văn của ngài. Cây Bồ Đề của ngài là cây Bimbijāla. Và thân xác của ngài cao khoảng tám mươi cubit. Tuổi thọ của ngài kèo dài khoảng một trăm ngàn năm. Vị hoàng hậu tên là Vicikolī là hoàng hậu nhiếp chính, Puññavaḍḍhana là tên con trai của ngài. Ngài đă xuất gia trong toà lâu đài của ngài. Do vậy có lời nói rằng:

XVI.13. Saraṇa là tên thành phố ngài cư ngụ, Saraṇa là tên vị Quí Tộc Sát Đế Lị , Sunandā là tên mẹ của ngài đạo sư Dammadassin.

18. Paduma và Phussadeva là hai tối thượng nam thinh văn của ngài. Sunetta là tên vị thị giả cho vị đạo sư Dhammadassin.

19. Khemā và Sabbanāmā[418] là hai tối thượng nữ thinh văn của ngài. Cây Bồ Đề của vị Phật Tổ đó là cây Bimbijāla.

21. Và Đức Thế Tôn đó, cao tám mươi cubit, đă toả sáng hào quang trên Thập Vạn Đại Thiên ta bà Thế Giới.

22. Giống vị cây sala vương giả đang trổ bông. Giống như tia chớp trên bầu trời, giống như mặt trời giữa ngọ. Th́ ngài cũng toả sáng ra như vậy.

23. Và cuộc sống[419] chiếu sáng không ǵ sánh nổi cũng tương tự như vậy. Đức Như Lai có mắt vẫn tồn tại trên thế gian này khoảng độ một trăm ngàn năm.

24. Sau khi đă để lộ ra nguồn sáng như vậy, sau khi đă tạo ra được Giáo Pháp vô tỳ vết ví như mặt trăng đă biến mất[420] trên bầu trời, cũng như vậy ngài cũng đă viên tịch với các đồ đệ của ḿnh.

19. Trong trường hợp này bimbijāla có nghĩa là cây kuravaka màu đỏ[421].

21. Trên Thập Vạn Đại Thiên ta bà Thế Giới có nghĩa là: trên mười ngàn ta bà thế giới.

22. Giống như tia chớp có nghĩa là giống như tia chớp.

22. Ngài đă toả sáng ra có nghĩa là: Giống như tia chớp trên bầu trời và mặt trời giữa ngọ chiếu sáng, vị Phật tổ này cũng chiếu sáng như vậy.

23. Tương tự như có nghĩa là: tuổi thọ của ngài cũng chính xác y hệt như tuổi thọ của biết bao nhiêu nhân loại[422] khác.

24. Biến mất có nghĩa là đă biến mất.

[223] 24. Giống như mặt trăng có nghĩa là giống như mặt trăng trên trời ngài cũng tịch diệt đi.

Người ta nói rằng Đức Phật Tổ Dhammadassin đă chứng đắc Níp Bàn ngay trong công viên Kesa trong thành phố Sālavatī. Những ǵ c̣n lại ư nghĩa đă quá rơ ràng.

Đến đây kết thúc phần Chú giải Biên niên kư sự Đức Phật tổ Dhammadassin.

Cũng kết thúc phần biên niên kư sự đức Phật Tổ thứ mười sáu.

 

-ooOoo-

 

[407]. Phật Tông ghi là Vicitolī, c̣n Be BvAB lại ghi là -kolī

[408]. Cây này, được gọi là bimbijāla nh trong bản văn tr. 220, 222 và trong Bv 19 đó là cây Amaranth màu đỏ. dưới đây tr. 222 và Ja v. 155 rattakuravaraka được cho là một từ đồng nghĩa với bimbijāla xin cũng đọc trong Ja I 39. Chú giải Thí Dụ Kinh (ApA) 43: “cây Bồ đề là cây kuravaka màu đỏ; cũng được gọi là cây bimbijāla

[409]. Điều này không được nói đă diễn ra trong ngày rằm tháng Visākha

[410]. Asaṅkhāta xin đọc Ja iv. 4 được giải thích là arimaṃsita, không được nghiên cứu, không được trạch pháp. Avove ư nghĩa có thể là bá tánh đă quá rối loạn hay ngu dốt để biết được bóng tối này mù mịt đến cỡ nào và chấp nhận như là điều tự nhiên

[411]. Dhammacakkhu. Xin đọc bản văn tr. 33

[412]. DPPN gọi những người này là anh em họ, điều này cũng giống như họ được gọi là hoàng tử. Kumāra, nhưng nhà Chú giải của chúng ta lại không đưa ra nhận định ǵ là họ có quan hệ với Đức Phật

[413]. Một trong đó toàn bộ những lỗi phạm, cho dù có được thấy, nghe hay nghi ngờ, mà đă được thú nhận chính v́ thế mà các vị tỳ khưu tham gia vào việc mời gọi này được vô tội, liên quan đến các lỗi phạm này, v́ nhờ thú nhận mà họ được gở bỏ khỏi những lỗi phạm đó.

[414] Chính v́ thế Phật Tông, Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon giải thích là một trăm ngàn như trong Be, BvAB

[415] Chú giải Lịch sử Chư Phật tiếng Ceylon ghi là eti mānusaṃ; c̣n Phật Tông lại ghi là ehi mānuse

[416] Purindada. Xin đọc MLS ii 52 n. 5 cũng nghĩa là một “thí chủ rộng răi” như đă ghi trong Chú giải Thiên Cung Sự Vimānavatthu tr. 171.

[417]. BvACB ghi là tadā, Bv Be ghi buddho

[418]. Saccanāmā ghi trong Bv

[419]. Jīvata, là cuộc sống, nguyên lư cuộc sống, và có thể có cùng ư nghĩa giống như āyu, tc là tuổi thọ.

[420]. Phật Tông giải thích là virocayi, chiếu sáng, một cách giải thích hoàn toàn thích hợp giống như nơi Chư Phật khác đă tàn lụi đi trong ánh sáng vinh quang, tuy nhiên, mọi người đều giải thích là cavi, được giải thích dưới đây bằng từ cuto. Có nghĩa là té rơi, tịch diệt, biến mất không được tái sanh trở lại.

[421]. Xin đọc thêm chú thích trong bản văn tr. 220

[422]. Ở đây narasatta. Trong toàn bộ tuổi thọ của Chư Phật đều giống hệt như những vị Phật cùng một tuổi với nhau.