NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

CHÚ GIẢI LỊCH SỬ CHƯ PHẬT

                                                              Nguyên Tác: BUDDHAVAMSA
                                                 Bản Pāli Ngữ: BUDDHATTA THERA
                                                Bản Dịch Anh Ngữ: I.B. HORNER
                                               Bản Dịch Việt Ngữ: TỲ KHƯU THIỆN MINH

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XV. CHÚ GIẢI ĐỨC PHẬT TỔ ATTHADASSIN

[215] Sau khi Đức Phật Chánh Đẳng Giác Piyadassin đă Níp Bàn và Giáo Pháp của ngài đă biến mất, và khi tuổi thọ của chúng sanh sau một thời kỳ kéo dài vô hạn định, nay đă giảm dần rồi lại gia tăng lên và giảm xuống đến thời điểm hạn định tuổi thọ một trăm ngàn năm, có Đức Phật tên là Atthadassin, vị tiên tri Chân Đế tối thượng (paramatthadassin), đă xuất hiện trên thế gian này. Sau khi ngài đă chu tất các pháp Ba la mật, ngài được tái sanh nơi cơi Trời Đâu Suất. Rồi tịch diệt khỏi cơi đó và giáng trần tái sanh trong ḷng Sudassanā, hoàng hậu nhiếp chính của nhà vua Sāgara, đang trị v́ trong một thành phố hết sức tráng lệ (paramasobhana) tên là Sobhana. Sau mười tháng trong bụng mẹ ngài đă đản sanh ngay tại nơi vui chơi giải trí Sucindhana. Ngay cùng lúc vị Đại Nhân được đản sanh ngài suy nghĩ, “Những chủ nhân tài sản chiếm được các kho báu to lớn đă chôn dấu trong một thời gian dài, nay xuất hiện tiếp trong các gia đ́nh.”. Vào ngày lễ đặt tên, họ hàng đă đặt tên cho ngài là Atthadassin. Ngài đă trải qua mười ngàn năm sống trong hậu cung, Amaragiri, Suragiri và Girivhana là tên ba cung điện vô cùng xinh đẹp của ngài. Có ba mươi ngàn phụ nữ (trợ lư) hầu hạ ngài trong cung đứng đầu là hoàng hậu Visākhā.

Khi ngài đă chứng kiến bốn hiện tượng và hoàng tử tên là Sela[388] đă được hoàng hậu Visākhā hạ sanh, th́ Đức Phật đă leo lên lưng ngựa đầu đàn trong hoàng cung tên là Sudassana và thực hiện cuộc Đại Xuất Gia, ngài đă lên đường xuất gia. Có tới chín mười triệu người đă theo gương ngài mà xuất gia cùng ngày hôm đó. Khi Vị Đại Nhân, vây quanh là những người đă rắp tâm thực hiện phấn đấu khổ hạnh trong ṿng tám tháng, và vào ngày rằm tháng Visākha ngài đă thọ cơm sữa ngọt, là của bố thí do một nữ long vương tên là Sucindharā cùng đại chúng đă dâng cúng cho ngài, cùng với một chiếc bát bằng vàng do nàng dâng tặng. Toàn bộ những thân h́nh của họ được hiện ra cho thấy Ngài trải qua một ngày tạm trú trong cánh rừng Sāla c̣n non, được trang hoàng với hàng trăm ngàn cây Sāla. Vào ban tối ngài đă nhận tám bó cỏ khô kusa do Long Vương có tên là Dhammaruci dâng tặng cho ngài, và rồi tiến lại gần cây Bồ Đề Campaka[389] ngài đă rải cỏ khô kusa lên một vùng đất rộng khoảng năm mươi ba cubit. Ngồi kiết già dưới gốc cây, ngài đă chứng đắc Chánh Đẳng Giác. Rồi ngài lại thốt lên những lời tuyên bố rất khớp với toàn bộ Chư Phật đă làm. Và rồi ngài đă trải qua bảy tuần lễ gần gốc cây Bồ Đề đó.

Khi ngài đă chấp thuận lời thỉnh cầu của Phạm Thiên về việc giảng giải Giáo Pháp và chính ngài đă thấy chín mươi triệu vị tỳ khưu là những người đă xuất gia cùng với ngài, đă hội đủ có khả năng thấu triệt Thánh Pháp. Ngài đă di chuyển trên không, và đáp xuống nơi vui chơi giải trí Anoma gần thành phố Anomā, vây quanh là những vị tỳ khưu đi theo. Ngài đă Chuyển Pháp luân tại đó. Thế rồi một cuộc thấu triệt Pháp hội lần đầu tiên đă diễn ra tại đó có đến một 10.100.000 người được thấu triệt.

C̣n nữa, khi Đức Phật, vị lănh đạo toàn thế gian, đă lên đường du hành vào cơi chư Thiên và đă thuyết Pháp tại đó. Lại diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội thứ hai bao gồm 10.100.000 người có mặt. Và khi Đức Phật Atthadassin đă vào thành phố Sobhana, giống như vị Đạo sư của chúng ta đă gia nhập thành phố Kapila. Và ngài đă diễn giải Giáo Pháp tại đó. Thế rồi lại diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội lần thứ ba gồm 10.100.000 người có mặt. Do vậy có lời giải thích như sau:

[216] XV1. Trong cùng một đại kiếp Maṇḍa[390] Ạtthadassin rất nổi tiếng[391] đă tiêu diệt được bóng tối u ám bao la, và chứng đắc vô thượng Chánh Đẳng Giác.

2. Khi đó do Phạm Thiên thỉnh cầu, ngài đă Chuyển Pháp Luân và làm tươi mát bất tử trường sanh cho cả các chư Thiên lẫn chúng sanh nơi mười ngàn ta bà thế giới.

3. Và dưới vị bảo vệ thế gian này đă diễn ra cả thảy ba cuộc thấu triệt Pháp hội. Cuộc thấu triệt đầu tiên gồm 10.100.000 người tham dự.

4. Khi Đức Phật Atthadassin đang thực hiện một chuyến du hành vào thế giới các vị chư Thiên lại diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội thứ hai cho 10.100.000 chúng sanh được thấu triệt.

5. Và c̣n nữa. khi Đức Phật Tổ đang thuyết giảng Giáo pháp có sự hiện diện của cha ngài lại diễn ra một cuộc thấu triệt Pháp hội thứ ba cho 10.100.000 chúng sanh được thấu triệt.

1. Trong trường hợp này trong cùng đại kiếp đó có nghĩa là trong cùng một đại kiếp Maṇḍa đó. Nhưng ở đây đại kiếp Vara lại có nghĩa là đại kiếp Maṇḍa. Trong một đại kiếp có tới ba đức Phật xuất hiện, th́ đại kiếp đó được gọi là đại kiếp Vara. Như đă giải thích ở trên.[392] Trong phần b́nh luận về biên niên kư sự Đức Phật Padumuttara. Chính v́ thế đại kiếp Vara được đề cập đến ở đây chính là đại kiếp Maṇḍa.

1. Tiêu diệt có nghĩa là tiêu hủy[393], hay đây chính là một cách giải thích thôi.

2. Khi đó có nghĩa là lúc ấy[394].

2. Trường sinh bất tử có nghĩa là được nếm hương vị bất tử để đạt đến thánh quả của thánh đạo.

2. Ngài làm tươi mát có nghĩa là làm cho tỉnh táo trở lại.[395] ư nghĩa ở đây là ngài được làm tăng thêm hăng hái.

2. Mười ngàn có nghĩa là mười ngàn ta bà Thế Giới.

4. Đi du hành thế giới các vị chư Thiên: ư nghĩa ở đây là: thực hiện một chuyến du hành vào cơi các chư Thiên nhằm dẫn dắt họ ra khỏi cơi đó.

Người ta nói rằng trong thành phố Sucandaka, con trai của nhà vua, là Santa, và con trai của một thầy tu, là Upasanta, v́ không nhận ra điều cốt lơi Tam Phệ Đà trong suốt thời gian hai người học hỏi t́m hiểu, đă bố trí bốn người có kiến thức và hiểu biết ngay tại cổng vào thành phố và chỉ thị, “Bất kỳ một vị Sa môn có kiến thức nào hay bất kỳ một thầy Bà la môn nào các người gặp hay nghe nói, hăy trở lại và báo cho chúng ta biết những thông tin về người này”. Vào thời đó Atthadassin, vị bảo hộ thế gian đă đến thành phố Sucandaka. Và như đă nhận được chỉ thị họ đă quay trở lại và thông báo cho những vị ấy, có một đức Như Lai Thập Lực đă đến và đang có mặt tại thành phố. Thật b́nh tĩnh khi nghe biết có đức Như Lai, với đoàn tùy tùng của họ khoảng độ một ngàn người, hai người này đă vui vẻ trong ḷng và đến gặp đức Như Lai Thập Lực, là người thanh tịnh khôn ví[396]. Khi họ chào đón và mời ngài vào thăm thành phố, họ đă tổ chức một cuộc Đại thí không ǵ sánh bằng trong ṿng bảy ngày cho Tăng Đoàn với Đức Phật tổ đứng đầu. Vào ngày thứ bảy cùng với toàn bộ những người đang cư ngụ trong thành phố, họ đă nghe một bài thuyết pháp của đức Như Lai. Người ta kể lại rằng trong ngày đó đă có chín mươi tám ngàn[397] người đă xuất gia theo mệnh lệnh xuất gia “Thiện lai tỳ khưu” và chứng đắc A-la-hán. Đức Phật tổ đă tụng Giới Bổn nơi Tăng Đoàn này, đó là lần qui tụ đầu tiên.

Và khi Đức Phật Tổ [217] đang diễn giải Giáo Pháp cho chính con trai ḿnh, là Trưởng Lăo Sela. Và ngài đă làm cho tám mươi tám ngàn người phải siêu ḷng, và ngài đă cho họ xuất gia theo khẩu hiệu “Thiện lai tỳ khưu” và họ đă chứng đắc A-la-hán. Ngài đă tụng Giới Bổn. Đó là lần qui tụ thứ hai.

C̣n nữa, khi ngài đang diễn giải Giáo Pháp cho cả chư Thiên lẫn chúng sanh trong một hội chúng về Kinh Đại Điềm Lành (Maha Maṅgala[398]) vào một ngày rằm tháng Māgha, ngài cũng đă khiến cho bảy mươi tám ngàn người chứng đắc A-la-hán. Ngài đă tụng Giới Bổn trong Tăng đoàn này. Đó là Tăng Đoàn thứ ba. Do vậy có lời nói về điều này như sau:

XV 6. Và Vị Đại ẩn sĩ này cũng đă qui tụ được ba Tăng Đoàn gồm những người trung kiên đă đoạn tận các lậu hoặc, trở nên vô tỳ vết và an tịnh trong tâm.

7. Tăng Đoàn đầu tiên gồm chín mươi tám ngàn chúng sanh; Tăng Đoàn thứ hai có tám mươi tám ngàn người tham gia.

8. Tăng Đoàn thứ ba gồm bảy mươi tám ngàn[399] người tham dự. Họ thuộc những người đă được giải thoát không dư sót (tái sanh c̣n lại) và đă trở thành những người vô tỳ vết và đại ẩn sĩ.

Họ nói rằng vị Bồ Tát của chúng ta vào thời ấy là một thầy Bà la môn rất giàu có, có tên gọi là Susima cư ngụ tại thành phố Campaka. Ngài đă bố thí tất cả của cải của ḿnh cho người nghèo, những người không được bảo vệ, cho những người ăn xin, v.v...ngài đă trẩy đến núi Hy-mă-lạp-sơn và xuất gia làm Đạo sĩ. Đắc thủ bát Thiền chứng và ngũ thắng trí và đạt được sức mạnh thần thông to lớn, oai phong lẫm liệt, sau khi đă diễn giải cho đại chúng về vô tội và có tội thuộc các pháp thiện và bất thiện. Ngài đă đi đến phục dưới chân Đức Phật tổ và ở lại đó.

Vào một dịp khác khi Đức Phật Atthadassin, người bảo vệ thế gian, đă xuất hiện trên thế gian này và đă mưa xuống thế gian một trận mưa Giáo pháp đang lúc hiện diện tới tám hội chúng trong thành phố lớn Sudassana, Ngài, (susima) đă nghe theo Giáo Pháp của Đức Phật đi đến cơi trời và đă từ cơi chư Thiên đó mang về biết bao nhiêu hoa mandarava, hoa sen, hoa cây trầm v.v... thân h́nh của ngài đă thể hiện do chính thần thông của ḿnh, đang khi làm mưa hoa rơi xuống giống như một trận cuồng phong che phủ khắp bốn châu lục nơi khắp tứ phương thiên hạ. Tạo thành những lùm cây hoa khắp nơi và các cột trụ được trang điểm bằng những tràng hoa bằng vàng và các cổng chào. Ngài đă kính lễ đức Như Lai Thập Lực với một màn trướng bằng hoa mandarava và Đức Thế Tôn này cũng tuyên bố về ngài như sau, Trong tương lai người này sẽ trở thành một Đức Phật có hồng danh là Cồ Đàm.” Do vậy có lời nói rằng:

XV.

9. Vào thời đó ta là một vị Đạo sĩ tóc búi nghiêm khắc tên là Susima, được coi như là một người hoàn hảo nhất trên thế gian này.

10. Khi ta mang về những đóa hoa mandarava. Hoa sen, và hoa cây trầm, từ cơi chư Thiên ta đă tỏ ḷng kính lễ vô hạn Vị Chánh Đẳng Giác.

[218] 11. Rồi[400] cả ngài nữa, Atthadassin, là vị đại hiền triết, cũng đă thọ kư về ta như sau: “sau 1800 đại kiếp người này sẽ trở thành một Đức Phật.

12. Khi ngài đă nhất quyết theo đuổi cuộc phấn đấu.....” “....chúng ta sẽ được đối diện với vị này.”

13. Khi ta nghe được những lời của ngài như vậy, trong ḷng rất phấn khởi, ta đă hạ quyết tâm theo đuổi tu tập nhiều hơn nữa để chu tất mười Pháp Ba la mật.

9. Trong trường hợp này đạo sĩ búi tóc có nghĩa là vị Đạo sĩ búi tóc, có tóc để búi.

9. Được coi như là người hoàn hảo nhất trên thế gian này có nghĩa là ngài được coi như, được thẩm định như vậy ngay cả ở trên toàn cơi thế gian này ngài là người tốt nhất, siêu phàm và đầy quang vinh.

Thành phố Đức Phật đó cư ngụ có tên là Sobhana, vị vua cha của ngài tên là Sgara, mẹ ngài tên là Sudassanā. Santa và Upasanta là hai tối thượng nam thinh văn của ngài. Vị thị giả cho ngài có tên là Abhaya. Dhammā và Sudhammā là hai tối thượng nữ thinh văn của ngài. Cây Bồ Đề của ngài có tên là Campaka. Thân h́nh của ngài cao tám mươi cubit. Hào quang thân h́nh của ngài phát ra luôn toả sáng độ một do tuần (yojana) tứ phía. Tuổi thọ của ngài kéo dài một trăm ngàn năm. Visākhā là tên người vợ chính thức của ngài. Con trai của ngài tên là Sela. Ngài đă xuất gia trên lưng ngựa. Do vậy có lời nói rằng:

XV.

14. Tên thành phố ngài cư ngụ là Sobhana[401]. Sāgara là tên một vị Quí Tộc Sát Đế Lị Sudassanā tên của mẹ ngài Atthadassin là vị Đạo sư.

22. Và Đức Phật đó, cao tám mươi cubit[402] toả sáng giống như một cây Sāla vương đế, giống như vị vua các thiên thể tỏa sáng toàn diện.

23. Hàng trăm ngàn Hào quang vô số kể từ hiện trạng tự nhiên của ngài đă toả sáng khắp mười phương khoảng một do tuần (yojana) cả trên xuống dưới.

24. Và cả Đức Phật này, một người phi thường,[403]một vị hiền triết vĩ đại. siêu việt nơi mọi con người. Người có mắt đă lưu lại trên thế gian này khoảng một trăm ngàn năm.

25. Sau khi đă để lộ ra sự sáng ngời và tỏa sáng trên khắp thế gian này với các chư vị chư Thiên. ngài cũng chứng đắc vô thường giống như ngọn lửa đang tiêu hao hết nguyên liệu.

22. Trong trường hợp này giống như vị vua gồm các thiên thể toàn diện có nghĩa là vị vua các v́ sao khi thiên thể vô tỳ vết của ngài toả sáng vào buổi trăng rằm mùa thu.

[219] 23. Xuất phát từ bản chất tự nhiên của ngài. Có nghĩa là xuất hiện do hiện trạng tự nhiên, chứ không do hiện trạng tự quyết. Như đức Như Lai này mong muốn như vậy. ngài có thể toả sáng hào quang của ḿnh xa tới hàng trăm hàng ngàn mười triệu ta bà Thế Giới.

23. Hào quang có nghĩa là những tia sáng.[404]

25. Sự tiêu hao nhiên liệu[405] có nghĩa là ngọn lửa tiêu huỷ nguyên liệu do việc tàn phá do ngọn lửa tạo ra.[406]

Liên quan đến diệt trừ tứ thủ, cả vị Phật Tổ này cũng đă viên tịch vô dư y Níp Bàn giới đó không tái sanh trong thành phố Anupana trong chùa Anoma.

Và do quyết định xá lợi của Ngài được phân chia khắp nơi.

Điều c̣n lại trong các đoạn kệ mọi ư nghĩa đă được làm rơ.

Đến Đây Kết Thúc Phần Chú giải Biên Niên Kư Sự Đức Phật Tổ Atthadassin

Cũng kết thúc phần Chú giải biên niên Kư sự Đức Phật tổ thứ mười lăm.

 

-ooOoo-

 

[388]. Bv xv. 16 sema

[389]. Michelia champaka: tiến Sinhale gọi là Sapu. Một cây rất cao hoa có hương thơm màu vàng, cây chỉ mọc trong vùng nhiệt đới, và có liên quan tới cây quả jak. Tại Sri-lanka cây chủ yếu được trồng tại vùng Kandy. Gỗ của cây được dùng để đóng đồ đạc dùng trong nhà sau khi đă được chế biến và được ngâm dưới bùn một ruộng lúa khoảng độ một tháng.

[390]. Xin đọc bản văn tr. 191

[391]. Mahāyasa, cũng như trong Be, BvAB ; narāsabha trong Bv

[392]. Bản văn tr. 191

[393]. Nihantvānā ti nihanitvā

[394]. Santo ti samāno

[395]. Tappayī ti atappayi

[396]. Asabala, ở đây là một tính ngữ của dasabala

[397]. BvAC 98 một trăm ngàn, nhưng điều này không phát sanh ra trong đoạn kệ 7 dưới đây

[398]. Xin đọc bản văn tr. 136

[399]. Bv giải thích 38.000 aṭṭhatiṃsasahassa

[400]. Tadā, Bv ghi là buddho

[401]. Ja i. 39 sobhita

[402]. BvAC ghi là ratana, Phật Tông ghi là hattha

[403]. BvAC ghi là naravasabho. Phật Tông ghi là narāsabho

[404]. Raṃsi ti rasmiyo

[405]. Upādāna

[406]. Indhana, chất đốt, xin đọc bản văn tr. 166