|
CHÚ GIẢI LỊCH SỬ CHƯ PHẬT
Nguyên Tác: BUDDHAVAMSA PL. 2551 - DL. 2007 |
||
|
|
I. CHÚ GIẢI VỀ ĐỊA ĐIỂM DU HÀNH-CHÂU BÁU (JEWEL-WALK) Và giờ đây bắt đầu tập Chú giải về tiền thân nội tại dựa trên phương pháp được bắt đầu như sau đây: 1 Vị Phạm Thiên Sahampati, thủ lănh trần gian, hai tay chắp lại, đă yêu cầu đức Như Lai không ai trổi vượt hơn như sau: “Có những bá tánh nơi hậu thế này do bản chất không có bất kỳ bụi trần nào nơi ḿnh; thuyết pháp Giáo Pháp do ḷng từ bi mà thực hiện cho hậu sanh này” Về điểm này[30], “Vào thời điểm đó Đức Phật đang lưu lại nơi các con Sóc đến kiếm ăn trong Trúc Lâm gần thành phố Rājagaha.” Cũng tương tự như những đoạn Kinh Phật bắt đầu như sau “Vào thời đó Đức Phật đang lưu lại trong công viên hoàng gia Nigrodha gần thành phố Kapilavatthu là nơi có nhiều người bộ tộc Thích ca sinh sống. Thế rồi vị Trưởng lăo Sāriputta tiến lại gặp Đức Phật; sau khi đă tiến lại gần ngài. Trưởng lăo đă đưa ra một câu hỏi có liên quan đến tập Phật Tông” không đá động ǵ đến một tiền thân theo cách bắt đầu như sau. Tại sao một tiền thân có nghĩa là theo cách bắt đầu như sau: “Vị Phạm Thiên Sahampati, thủ lănh trần gian, hai tay chắp lại, đă đặt câu hỏi cho đức Như Lai rằng: “Ai là người không thể trổi vượt hơn?” Đây là điều được kể lại như sau: Khi Vị Phạm Thiên đang chất vấn Đức Phật về cách thức thuyết pháp Giáo Pháp; câu hỏi đó nhằm mục đích cho thấy cách thức đích thực phải thuyết pháp Giáo Pháp như thế nào. Ngài đáp lại như sau: “Khi nào vị Phạm Thiên đă yêu cầu vị Chiến thắng về việc thuyết giảng Giáo Pháp? Đoạn kệ này đă được thốt ra do ai, khi nào, ở đâu?”[31] 16 (và đoạn kệ 17) [6] Giờ đây vào ngày thứ tám sau khi Đức Phật đă chứng đắc Giác Ngộ, vị Phạm Thiên đă đến đặt câu hỏi, và yêu cầu đạo sư thuyết giảng Phật Pháp. Đây là tiến tŕnh bài tường thuật được diễn tiến như sau: Sau khi đă thực hiện quyết tâm, ngay trong ngày ngài thực hiện Cuộc Xuất Gia Vĩ đại, Vị Đại Nhân đă chứng kiến những cung nữ ca múa đang ngồi và nằm hớ hênh[32] với điệu bộ thật ghê tởm, chẳng có chút quần áo che thân, hở hang khêu gợi, vị Đại Nhân trong ḷng cảm thấy vô cùng bối rối. Ngài đă nói với Channa, là người đă nắm giữ vị trí[33] đặc biệt, nói rằng. “Hăy đem lại con ngựa ṇi vinh quang Kanthaka,[34] kẻ sát sanh quí tộc dành cho những người vinh quang[35] Ngài đă cưỡi lên con ngựa quang vinh vừa đem đến tŕnh cho ngài và, có Channa làm người đồng hành, ngài đă lên đường thoát ra khỏi thành phố khi cổng thành đă được mở toang do một nhóm thần linh đang rảo thăm thành phố. Băng ngang qua ba vùng lănh thổ trong suốt thời gian một đêm c̣n lại, con người toàn thiện[36] đó, đứng bên bờ sông Anomā đă thốt lên những lời sau đây với Channa[37], “Hỡi Channa, hăy giữ lấy Kanthaka, là con ngựa ṇi quang vinh và toàn bộ những đồ trang sức của ta đây, là những đồ chẳng c̣n chút giá trị ǵ đối với ta nữa.[38] Hăy quay trở lại thành phố Kapila.” Sau khi đă để cho Channa rút lui, ngài liền dùng thanh kiếm sắc như nước cắt đứt phần tóc đen trên trán và cḥm tóc trên đầu của ngài giống như cắt những chiếc hoa sen màu xanh và tung lên không trung. Thế rồi ngài nhận chiếc bát và y cà sa do các chư Thiên đem lại, chính ngài đă xuất gia và đi tản bộ dần dần trên đường và vượt qua sông Hằng mà không gặp bất kỳ trở ngại nào[39]. – V́ những cơn sóng thường nổi lên do sức gió đă bị ngài chế ngự – ngài đi vào một thành phố có tên là Rājagaha, nơi cư trú của nhà vua[40] toả sáng và rạng rỡ từ những tia sáng của một loạt các bảo ngọc. Tại đó, như thể đang cười nhạo[41] những chúng sanh đang quá tự hào do tính kiêu hănh và quyền thế và như thể làm nổi lên nỗi mắc cỡ nơi một người đang mặc những bộ đồ vĩ đại. Và như gắn kết những tấm ḷng các công dân với chính ngài bằng tính trẻ trung đáng yêu của ngài. Và như thể một trung tâm gây chú ư cho mọi con mắt của tất cả chúng sanh v́ vẻ huy hoàng nơi dung nhan ngài toả sáng với ba mươi hai tướng quang vinh của một Vĩ Nhân. Như thể việc thu thập công đức thực hiện được qua dáng đi những bước chân đáng yêu của ngài, và những bước đi không ǵ ngăn cản nổi[42] ngài trông giống tựa một tảng đá lớn, nhưng các căn của ngài an tịnh, trí tuệ của ngài b́nh thản, hướng tầm nh́n về phía trước không quá xa hơn một luống cày. Khi ngài bước đi vào thành Rājagaha để khất thực và chỉ nhận đủ phần lương thực giúp cho chính ngài có thể tiếp tục lên đường đi ra khỏi thành phố. Ngồi thiền trong địa điểm hiu quạnh giữa thanh thiên bạch nhật trên một triền dốc có tên là Paṇdava[43] ngay trên một khoảnh đất cao có cả bóng mát lẫn nước. Ngài đă dùng đồ ăn trộn chung đủ thứ xin được trong tư thế sức mạnh và mặc niệm. Vị đại vương vùng Magadha, tên là Bimbisāra, là người giỏi nhất vùng đồi núi Mandāra, cũng là người được tuyển chọn nơi các chúng sanh[44], liền tiến tới trước sự hiện diện của ngài Đại Nhân. Khi được hỏi tên và công dân thuộc bộ tộc nào[45], nhà vua liền dâng cho ngài vương quốc của ḿnh và vui vẻ trong ḷng cất tiếng nói, “Xin ngài hăy nhận phần vương quốc của tôi.” “không thưa bệ hạ, ta không cần một vương quốc nào cả” ta đă từ bỏ vương quốc của ta và đang có ư định phấn đấu cho hạnh phúc trần gian.Ta muốn trở thành một Vị Phật, là người sẽ vén mở bức màn che khỏi trần gian[46] Khi ngài ra đi sau khi đă nói những lời như vậy, nhà vua liền nói. “Tốt lắm, khi nào ngài trở thành Vị Phật, ngài phải chứng thực điều đó trước tiên trong vương quốc của trẫm.” “được rồi” ngài nói, và khi ngài đă đưa ra lời bảo đảm ngài tiến tới Ālāra và Uddaka. Nhưng v́ ngài không t́m thấy nơi họ nguồn căn bản việc thuyết pháp Giáo Pháp của ngài, ngài đă ra đi từ biệt họ; cho dù phải bận rộn tu tập khổ hạnh trong suốt sáu năm trời tại vùng Uruvelā, nhng vẫn không thể đạt đến bất tử, ngài liền làm tươi trẻ thân h́nh của ngài bằng cách dùng đồ ăn thô dành cho ngài. [7] Gần thành Uruvelā thuộc thị trấn Senānis[47], có cô Sujātā, là con gái một điền chủ tên là Senāni,[48] một thiếu nữ trẻ đă đến tuổi khôn lớn, nàng đă thề nguyền trước cây đa rằng: “Nếu tôi trở về ngôi nhà thuộc bộ tộc của tôi, lại gặp người đàn ông nào cùng đẳng cấp với tôi đang mang thai con đầu ḷng tôi sẽ thực hiện một cuộc dâng cúng.” Lời nguyền của nàng đă đạt được kết quả. Vào một ngày trăng rằm tháng Tư Visakha nàng suy nghĩ: “Tôi sẽ thực hiện dâng cúng vào ngày hôm nay” và vào sáng sớm tinh sương nàng đă dâng bữa cơm gồm cơm sữa rất nhuyễn[49] và lại ngọt ngào. Cùng ngày hôm đó có vị Bồ Tát, sau khi đă chăm chuốt thân h́nh thể xác xong, đang khi chờ đến giờ lên đường khất thực vào buổi sáng sớm, ngài đă tiến đến gốc cây đa và ngồi thiền ngay tại đó. Thế rồi một người nô bộc phụ nữ tên Puṇṇā, là bảo mẫu của cô gái, cũng đang tiến tới gốc cây để sửa soạn dâng của tế lễ, nàng đă nh́n thấy vị Bồ Tát, mặt trời chính là vị hiền triết đang ngồi thiền kế bên gốc cây quang vinh quay tầm quan sát về hướng đông. Vẻ huy hoàng thân xác ngài giống như màu vàng vinh quang chói chan với những tia sáng mặt trời rực rỡ đang ló rạng trên đỉnh ngọn núi, như đang chế nhạo bóng tối bao la và khiến cho bóng tối chiếu sáng lên giống như một đầm sen sáng rực khi mặt trời chiếu rọi đến tận khe tảng đá khổng lồ[50]. Và v́ ánh sáng phát ra từ thân xác của ngài và nàng nh́n thấy toàn bộ cây đa phủ một màu vàng chói chang một điều xảy ra nơi nàng là, “Ngày hôm nay vị chư Thiên của chúng ta đă giáng lâm từ cây đó và đang ngồi thiền tại đó và đang nóng ḷng muốn chính tay ngài sẽ nhận của lễ nàng dâng cúng.” Nhanh như chớp nàng chạy về gặp Sujātā thưa lại với nàng toàn bộ sự việc đă diễn ra. Rồi tràn đầy niềm tin nàng Sujātā đă tự trang điểm với đủ thứ nữ trang lộng lẫy và đổ đầy cơm sữa cho đến miệng[51] một tô làm bằng vàng, đó là một thức uống rất ngọt. Nàng đă không đậy kín chiếc tô vàng đó và đặt lên đầu rồi ra đi hướng về phía cây a. Khi nàng c̣n đang trên đường đi, từ xa xa nàng đă nh́n thấy vị Bồ Tát đang ngồi đó giống như một Vị thọ thần, biến toàn bộ cây đa thành một màu vàng bằng ánh sáng phát ra từ thân xác của ngài, đẹp như một người tích luỹ được muôn vàn công đức. Coi ngài như là Vị Thọ Thần, Sujātā trong ḷng trần ngập niềm vui và sung sướng. Tiến lại nơi đó lần đầu tiên nàng đă nh́n thấy ngài trong tư thế liên tục cúi gập ḿnh về phía trước, nàng lấy chiếc tô bằng vàng xuống khỏi đầu và đặt vào đôi tay của vị Đại Nhân. Nàng đă kính lễ ngài bằng cách thực hiện năm lần phủ phục[52] và nói rằng, “V́ ước muốn của con đă được toại nguyện, v́ vậy chớ ǵ ư nguyện của ngài cũng được thể hiện nữa.” Rồi nàng ra đi. Rồi sau đó vị Bồ Tát nhận lấy chiếc tô bằng vàng[53] và ra đi tới bờ sông Nerañjarā, đặt chiếc tô vàng xuống bờ sông ngay một nơi có thể vượt qua sông có tên gọi là Suppatiṭṭhita, và rồi ngài xuống sông tắm. Khi ngài đă ra khỏi nước lên bờ ngài đă làm thành bốn mươi chín vắt cơm và sau khi đă dùng bữa cơm sữa ngài suy nghĩ: “Nếu ta trở thành[54] một vị Phật ngay ngày hôm nay, th́ cho chiếc bát này sẽ trôi ngược ḍng sông.” Và rồi ngài liệng chiếc tô xuống ḍng sông. Chiếc bát đó đă trôi ngược ḍng sông. Tiến vào nơi cư trú của vua Nāga Long Vương có tên là Kāla và đẩy lên các bát nhỏ lớn của ba vị Phật trước đó. Chiếc bát đó đă đến đỗ lại bên dưới những chiếc bát nhỏ này. Vị Đại nhân đă tạm trải qua trong một khu rừng rậm gần đó. Vào buối tối ngài đă nhận được tám bó cỏ khô do người cắt cỏ tên là Sotthiya đang vận chuyển sau biết được tư cách của vị Đại Nhân này. Ngài đă chấp nhận tám bó cỏ khô đó và bước lên chiếc bệ ngay dưới gốc cây Bồ Đề và đứng hướng về phía nam. Nhưng địa điểm này rung lên giống như giọt nước rơi trên chiếc lá sen. Vị Bồ Tát[55] suy nghĩ: “Chỗ này không thể kham nổi ân đức đặc biệt của ta.” [8] Và ngài đă ra đi hướng về phía tây. Tại vị trí này đất cũng rung lên như lần trước. Ngài lại ra đi và tiến về hướng đông. Đây là một nơi vững chắc hơn có kích cỡ thích hợp vừa đủ cho một người ngồi thiền ở vị thế kiết già. Vị Đại Nhân đi đến kết luận là. “Nơi đây chính là vị trí để triệt phá hết mọi phiền năo.” Ngài đă nhận lấy những bó cỏ khô đó ở một đầu và trải cỏ ra. Tự nhiên những bó cỏ tự trải ra tựa như có sức nặng từ phía một đầu. Vị Bồ Tát, suy nghĩ, “Ta sẽ không rời khỏi vị thế ngồi thiền kiết già này nếu chưa chứng đắc Giác Ngộ. Và ngài đă quyết tâm với tứ tinh tấn,[56] ngài ngồi kiết già hướng về phía đông, lưng tựa vào thân cây Bồ Đề. Ngay lúc đó Ma-vương, hiện ra trước mắt ngài toàn bộ trần gian, nhờ sức mạnh siêu phàm (Ma vương) đă tạo ra ngàn cánh tay, cưỡi[57] trên lưng một con voi quyền quí[58] có tên gọi là Girimekhala. Một con voi quang vinh có chiều cao khoảng một trăm năm mươi do tuần (yojana) và trông tựa như một ngọn núi. Vây quanh là một lực lượng vô cùng hùng hậu, đạo quân Ma-vương[59] dàn vũ khí ra khoảng chín do tuần (yojana) gồm cung tên, giáo mác, búa, mũi tên và kiếm, và như thể bủa vây chung quanh[60] toàn bộ ngọn núi dốc. Ma-vương đến gần vị Đại Nhân xem ngài đă chứng đắc điều trọng đại chưa. Đang khi mặt trời c̣n chiếu sáng, vị Đại Nhân đă đánh tan tác đoàn quân Ma-vương biến chúng hoàn toàn thành rối loạn. Như thể ngài được kính lễ với niềm hân hoan do các cành cây Bồ Đề, giống như những điệu nhún nhảy cành cây trầm màu đỏ thật đáng yêu, đang rơi xuống trên y cà sa của ngài, giống như những cánh hoa “niềm vui chiến thắng”[61] đang nở rộ, và sau khi đă đạt đến Tục mạng minh nhớ về các tiền kiếp trong suốt canh nhất, tinh luyện được minh về thiên nhăn trong suốt canh hai và thấu triệt được hiểu biết y tương sinh trong suốt canh cuối cùng, suy gẫm về ṿng luân hồi trường cửu[62] và trở thành một Vị Phật khi b́nh minh ló rạng. Ngài đă thốt lên những lời tuyên bố long trọng như sau: “T́m kiếm song không thấy kẻ xây dựng nhà cửa, ta đă giao du suốt biết bao nhiêu kiếp nơi ṿng luân hồi, phải tái sanh luân hồi là điều đau khổ giằn vặt. Ôi người kiến dựng nhà cửa, giờ đây nhà ngươi đă được thấy; nhà ngươi sẽ chẳng xây nhà cửa trở lại nữa. Toàn bộ những cây đ̣n tay của nhà ngươi đă bị triệt phá hết, cả cây đ̣n dông nóc nhà cũng không c̣n nữa. Giờ đây tâm trí ta đă chứng đắc điều gọi là vô kiến trúc. Và đă đạt đến triệt phá mọi ái dục.”* Và ngài đă trải qua bảy ngày trong niềm vui giải thoát vô biên. Thoát ra khỏi hiện trạng chứng đắc[63] đó vào ngày thứ tám, và biết được những nghi ngờ chư Thiên, ngài bay bổng lên không trung như để xua tan mọi nghi ngờ của bọn họ và, sau khi đă thực hiện Phép Song Thông và xua tan mọi nỗi nghi ngờ trong ḷng họ, ngài đứng ngay phía bắc quay mặt hướng về phía đông là nơi ngài đă ngồi thiền trong tư thế kiết già. Ngài nghĩ “Quả thực, ta đă thấu triệt được toàn bộ trí toàn tri khi ta ngồi thiền trong tư thế kiết già như thế” và ngài đă lưu lại đó bảy ngày chiêm ngưỡng vị trí ngài ngồi thiền kiết già cũng như cây Bồ Đề v́ đó là vị trí ngài đạt đến Chánh Quả toàn giác, * Như Dh 153-154, Thag 183-4, Ja I 76. liên quan đến UdA 208; được trích VA 17. Chú giải Trường Bộ Kinh (DA) 16, KhA 12, Chú giải Bộ Pháp Tụ (Asl) 18. xin đọc BD iv. phần giới thiệu tr. vii để tham khảo thêm. là những ǵ ngài đă thực hiện trong suốt bốn A tăng kỳ và trong một trăm ngàn đại kiếp. Vị trí đó ngày nay có tên gọi là Animisacetiya[64] tức là “thánh điện của cái nh́n kiên định” Thế rồi, giữa vị trí ngài đứng và ngồi thiền trong tư thế kiết già, ngài đă trải qua bảy ngày đi tới đi lui trong Nơi Du Hành Châu Báu, trải dài từ tây sang đông. Vị trí đó đă có tên gọi là Ratanacañkamanacetiya tc là “Điện Thờ Du Hành Châu.” [9] Bởi vậy các chư Thiên đă kiến tạo một “Ngôi Nhà Châu Báu” ngay phần phía tây. Ngồi thiền tại đó bảy ngày trong tư thế kiết già ngài đă nghĩ ra Tạng Vi Diệu Pháp đến từng chi tiết kể cả toàn bộ tập Paṭṭhāna cùng với những phương pháp tuyệt diệu. Vị trí đó đă nhận được tên gọi là Ratanagharacetiya “Điện Thờ Toà Nhà Châu Báu”. Như vậy, sau khi đă trải qua chính xác bốn tuần lễ ngay gốc Cây Bồ Đề, bước sang tuần lễ thứ năm ngài tiến lại gần gốc Cây đa (Banyan) của Ajapāla từ gốc cây Bồ Đề của ngài. Tại đó ngài nghĩ ra được Phật Pháp và cũng đă cảm nghiệm được niềm vui giải thoát khôn tả, ngài đă trải qua bảy ngày ngay tại gốc cây đa (Banyan) của Ajappāla. Sau bảy ngày ngài ngồi thiền tại gốc cây Mucalinda. Ngay sau khi Đức Thế Tôn đă kết thúc ngồi thiền tại đó, đă nổi lên một cơn mây giông rất mạnh che phủ toàn bộ phần bên trên ngọn núi (vây quanh trần gian[65]). Khi cơn giông đă nổi lên Mucalinda, vua Măng Xà (Naga) nghĩ: “Cơn mây giông to l̕ | |