NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

CHÚ GIẢI LỊCH SỬ CHƯ PHẬT

                                                              Nguyên Tác: BUDDHAVAMSA
                                                 Bản Pāli Ngữ: BUDDHATTA THERA
                                                Bản Dịch Anh Ngữ: I.B. HORNER
                                               Bản Dịch Việt Ngữ: TỲ KHƯU THIỆN MINH

PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

IIA. CHÚ GIẢI BỒ TÁT SUMEDHA [1]

Giờ đây:

IIA I. Một trăm ngàn đại kiếp và bốn A Tăng Kỳ vừa qua có một thành phố tên là Amara, h́nh dáng rất xinh xắn và hấp dẫn.[2]

Đă xuất hiện cơ hội thực hiện việc Chú giải tác phẩm Phật Tông được truyền lại theo phương pháp như đă ghi lại trong các đoạn kệ tiếp theo sau đây. V́ sau khi đă khảo sát nghiên cứu việc tŕnh bày các bài thuyết pháp, chính v́ thế tác phẩm Chú giải Lịch sử Chư Phật đă trở nên rơ ràng kể từ việc khảo sát nghiên cứu các bài thuyết pháp đă được đề cập đến ở trên. Việc tŕnh bày các bài thuyết pháp này gồm bốn loại[3]: dựa theo khuynh hướng của diễn giả, dựa theo khuynh hướng của nhiều người khác, dựa vào kết quả câu hỏi được đặt ra và lư do nhu cầu nổi lên. Những bài thuyết pháp đó do Đức Thế Tôn tŕnh bày không có người nào khác đặt câu hỏi và chỉ theo khuynh hướng riêng của Đức Thế Tôn mà thôi: như thể bài thuyết pháp kaṅkheyya,[4] bài thuyết pháp về sự vật (Vatthu)[5] – là những bài thuyết pháp được tŕnh bày theo khuynh hướng của chính Đức Thế Tôn. Nhưng những bài thuyết pháp được tŕnh bày theo khuynh hướng của những người khác và sau khi ngài đă khảo sát khuynh hướng của những người đó, liên quan đến đặc tính kiên tŕ của họ, về danh (t́nh trạng tâm linh) và hiện trạng Giác Ngộ, suy nghĩ, (thí dụ như): “Nơi Rāhula giờ đây các sự vật đạt đến trưởng thành đều đem lại giải thoát. Giả dụ như ta phải huấn huyện cho Rāhula hơn nữa về cách đoạn trừ các lậu hoặc th́ sao?”* Những bài thuyết pháp như lời cổ vũ Rāhula,[6] bài thuyết pháp về Chuyển Pháp Luân[7] - việc tŕnh bày những bài này là theo khuynh hướng của người khác.

Sau khi tiến lại gần Đức Thế Tôn các vị chư Thiên và nhân loại đă nêu lên một câu hỏi. Và đặt câu hỏi như sau: việc tŕnh bày những bài thuyết pháp Đức Thế Tôn đă tŕnh bày như Devatsaṃyutta[8] và Bojjhaṅgasaṃyutta[9] lại là kết quả của một vấn đề và việc tŕnh bày các bài đó được thuyết giảng là do có nguyên nhân nổi lên, như bài những người Thừa Kế Phật Pháp[10] và chuyện Ẩn Dụ về Thịt[11] của Nam Nhi. Đây chính là do nhu cầu nổi lên[12]. Như vậy bốn loại thuyết tŕnh về một bài thuyết pháp, th́ việc tŕnh bày bài thuyết pháp về Phật Tông được coi là kết quả của một vấn đề mà thôi. V́ đây chính là cách Đức Thế Tôn tŕnh bày như là kết quả của một vấn đề nổi lên. Do kết quả của vấn đề kẻ nào đă nêu lên? Của ngài Trưởng lăo Sāriputta. Chính v́ thế liên quan đến vấn đề này người ta nói bắt đầu như sau:

[65] Sāriputta, người đại trí thông minh kiệt tác, tài giỏi trong việc định và thiền, đă chứng đắc trí tuệ Ba la mật, đă đặt vấn đề với vị lănh tụ thế gian như sau: Ôi vị đại anh hùng, tuyệt vời nơi các chúng sanh, quyết tâm của ngài thuộc loại nào vậy?*1

V́ thế cho nên giáo lư này nói về Phật Tông nên được hiểu là kết quả của một vấn đề đă được nêu lên.

* Trung Bộ Kinh iii. 277, S iv. 105
*1 Phật Tông. I. 74, 75 trích đoạn CpA 6

1. Trong trường hợp này Một trăm ngàn đại kiếp (kappa): ở đây từ kappa đă gặp thấy ở nhiều văn cảnh khác nhau[13], có nghĩa là tin tưởng, cho phép. Thời gian, biểu thị, cắt đứt. Giải thích, lư do, tính chất hoàn toàn, thời gian tuổi thọ. Đại kiếp. v.v... Như vậy, “Điều này được tin là (okappaniya) đối với Đức Cồ Đàm tốt lành được coi như là một vị A-la-hán. Một Phật Nhân Toàn Giác.”* - Trong các đoạn văn cảnh như vậy “niềm tin” là điều đă được nhận thấy rơ ràng. “Hỡi các vị tỳ khưu, ta cho phép các ngươi sử dụng trái cây theo năm cách các vị Sa môn được phép (kappa) làm.”*1 Trong các đoạn văn cảnh như vậy th́ đây chính là “được phép”. “Trong đó tôi liên tục (nicca-kappa) cư ngụ trong đó”*2 Trong văn cảnh này đây chính là “thời gian”. “Trưởng lăo Kappa nói.”*3 “Họ cho rằng Kappa Banyan là tên Đức Thế Tôn đặt cho người Ba-la-môn này” *4 Trong văn cảnh như vậy đó là “cách biểu thị”. “Được trang điểm, tóc và râu được cắt tỉa kỹ càng (kappata)” *5 Trong văn cảnh như vậy ư nghĩa là “cắt bỏ”. “Việc tu tập (kappa) liên quan đến bề ngang hai ngón tay có được phép thực hiện chăng? *6 – Trong văn cảnh như vậy đây là một cách giải thích(vikappa) “Có lư do thoả đáng (kappa) để nằm xuống”*7 trong văn cảnh như vậy th́ đó là một “lư do, cái cớ”. “Sau khi đă thắp sáng lên toàn bộ (kevalakappa) khu rừng Jeta” *8 trong văn cảnh như vậy đây chính là một “đặc tính trọn vẹn” (hoàn toàn) – “chớ ǵ Đức Thế Tôn lưu lại trong ṿng một thọ mệnh (kappa) chớ ǵ đấng lo hạnh phúc cho chúng sanh lưu lại trong ṿng một thọ mệnh” *9 - Trong những văn cảnh như vậy ư nghĩa là “tuổi thọ.” “Thưa ngài kính mến, một kiếp (kappa) thuộc loại nào vậy?” *10  đây ư nghĩa là một “đại kiếp”. bằng cách dùng các từ “vân vân” – “ Đương nhiên chúng ta đang cùng thảo luận với một đồ đệ, người này không hay biết ǵ là chúng ta rất giống (kappena) với vị đạo sư.” *11 – Ở đây ư nghĩa là sự “tương đồng” (giống nhau). “Nếu như điều ǵ được phép làm (kappa) đă bị triệt tiêu, giả dụ như cơ hội nhằm thực hiện việc cho phép này đă trở nên mai một đi”*12 đây chính là việc cho phép theo Luật. Nhưng ở đây ta nên hiểu là “một đại kiếp” chính v́ thế một trăm ngàn kiếp chính là một trăm ngàn đại kiếp.

1. Và bốn A Tăng Kỳ có nghĩa là đoạn c̣n lại nên được hiểu như là “vào lúc kết thúc bốn A Tăng Kỳ. Ư nghĩa ở đây là: vào lúc kết thúc bốn A Tăng Kỳ thêm vào đó là một trăm ngàn đại kiếp.

1. Một thành phố có tên gọi là Amara có nghĩa là thành phố đó được gọi bằng cả hai tên Amara và Amaravatī. Nhưng có một số người[14] giải thích điều đó ngay cả ở đây theo một cách khác. Họ làm thế nào được trong khi đó đây chỉ là một tên thành phố?

1. Rất dễ coi (xinh đẹp) có nghĩa là dễ coi là v́ thành phố được trang điểm với rất nhiều đường xá xe cộ. Ngă tư đường, cổng vào thành, quảng trường, những nơi khác, tại đó có ba bốn con đường giao nhau.. Có rất nhiều tường rào, hàng rào vây quanh, những cung điện, nơi ở rộng răi và nhiều nơi cư trú.[15]

1. Thú vị và sung sướng có nghĩa là vui sướng đối với cả các chư Thiên lẫn nhân loại v.v... v́ những căn phố vô cùng hấp dẫn lại rất sạch sẽ, [66] v́ thành phố có đầy bóng cây mát rợi và nhiều nước. V́ thực phẩm đồ ăn đồ uống rất dễ dàng có được và v́ thành phố này thích hợp đối với toàn bộ những cách hiện hữu. V́ thành phố này rất thịnh vượng.

2. Vang rền đủ mười loại âm thanh: với tiếng voi kêu, tiếng ngựa hí, tiếng xe ngựa kéo, tiếng trống, âm thanh lời ca tiếng hát, với tiếng đàn luưt. tiếng hát, tiếng chủm choẹ, tiếng cồng, và với âm thanh thứ mười (đó là) “tiếng tham gia, ăn uống.[16] Thành phố là nơi vang dội với đủ mười loại âm thanh này, ư nghĩa là: không khí vui nhộn bất tận, lễ lạc liên tục, và biểu diễn thể thao.

* M. i. 249.
*1 Vin ii. 109
*2 M. i. 249
*3 Sn 1092
*4 nt 244
*5 Ja vi. 268
*6 Vin ii 204, 300
*7 D iii. 256, A iv. 333, Vbh. 386
*8 S i. 1, v.v... A i. 278
*9. Vin ii. 294. 289, D ii. 104, 115, S ii. 276, A iv. 309, Ud 62
*10 S ii. 181
*11. Trung Bộ Kinh i. 150
*12. Vin iv. 121

2. Được trang bị đầy đủ đồ ăn thức uống có nghĩa là được cung cấp rất nhiều đồ ăn thức uống, được trang bị lương thực dự trữ dồi dào, và với bốn loại dinh dưỡng[17], và đồ uống. Như vậy chứng tỏ thành phố này có điều kiện tốt nhất để thực hiện bố thí. Ư nghĩa ở đây là: được cung cấp rất nhiều đồ ăn thức uống. Đến đây để chứng tỏ rơ những ví dụ về mười loại âm thanh này người ta kể lại như sau:

IIA 2. Tiếng voi rống, tiếng ngựa hí, và tiếng trống, tiếng ca tiếng tụng kinh và tiếng xe ngựa.

3. Cũng c̣n có cả tiếng “ăn, uống” phát ra, tiếng quát tháo đ̣i hỏi đồ ăn thức uống.

2. Tiếng voi gầm có nghĩa là với tiếng voi gầm; đối cách nên được hiểu theo nghĩa sử dụng cách. Đây cũng là một phương pháp được áp dụng trong những ḍng c̣n lại.

2. Và tiếng trống, tiếng tụng Kinh (chant) và tiếng xe kêu rít rít. Có nghĩa là tiếng trống cộng với âm thanh tụng kinh và âm thanh của những chiếc xe ngựa kéo, được đề cập đến bằng cách thay đổi giống.[18]

3. “Ăn, uống” có nghĩa là: như vậy bằng cách sử dụng những phương pháp trước đó, ư nghĩa được đề cập đến ở đây là quát tháo lên. Gọi to lên để người phục vụ đem đến đồ ăn thức uống cho ta. Nhưng mỗi âm thanh dành cho một thứ (đồ ăn thức uống) riêng, chớ không phải một âm thanh có thể gọi được đủ thứ. Và ta có thể phân biệt được tất cả mười âm thanh chớ không phải duy có một mà thôi. Những âm thanh của loại trống nhỏ thuộc loại tiếng trống; âm thanh đàn luưt. Tiếng hát, tiếng chủm chọe và tiếng cồng được liệt vào loại âm thanh chank. Chứng tỏ cho thấy mười loại âm thanh, khen ngợi sự thành công và thịnh vượng của thành phố. Tuy nhiên để chứng tỏ điều này người ta nói rằng:

IIA 3. Thành phố này hoàn hảo trong mọi lĩnh vực, thành phố tham gia vào mọi ngành nghề kinh doanh, lại chiếm hữu được bảy loại kho tàng, có đủ mọi hạng người đến cư trú, thịnh vượng như một thành phố thần tiên. Đây quả thực là một nơi cư trú của những người thực hiện công đức.

3 Trong trường hợp này hoàn hảo trong mọi lănh vực có nghĩa là: sở hữu được toàn bộ những ǵ cấu tạo thành một thành phố, với cổng thành, sảnh đường v.v... thừa hưởng mọi nguồn tài sản[19], kho báu, và lúa thóc, cỏ khô, củi và nước.

3. Tham gia vào mọi công việc kinh doanh: ư nghĩa ở đây là tham gia, bận bịu vào tất cả mọi ngành nghề, với đủ mọi nghề nghiệp làm ăn.

[67] 4. Sở hữu bảy loại kho báu. Có nghĩa là có thừa mứa với bảy loại kho báu bắt đầu với ngọc quư,[20] hoặc giả thành phố có được bảy loại kho báu bắt đầu với voi trong vùng là nơi cư trú cho quốc vương hoàn vũ.

4. Đủ mọi hạng người đến cư trú có nghĩa là: đủ mọi hạng người khác nhau kéo đến đây cư trú, từ người dân thành thị cho đến thổ dân tại địa phương.

4. Thịnh vượng có nghĩa là phát đạt, giàu sang có đủ mọi phương tiện hỗ trợ cho con người và các phương tiện tiêu khiển.

4. Giống như một thành phố chư Thiên có nghĩa là người ta nói thành phố này thịnh vượng giống như thành phố thần tiên, giống như thành phố Ālakamanda[21], và thành phố Amaravatī[22]

4. Một nơi trú ngụ cho những người thực hiện điều công đức. (āvāsaṃ puñakamminaṃ) có nghĩa là: một nơi cư trú (āvāso) hiểu theo nghĩa: những người thực hiện việc công đức đang cư ngụ ở đây. Ta nên nhớ āvāso được hiểu nghĩa như là vāsaṃ sau khi có thay đổi giống được thực hiện ở đây. Công đức có nghĩa là những ǵ nhờ đó người ta trở thành đáng chú ư nhờ vào nguồn gốc gia đ́nh, sắc đẹp, trí thông minh, tài sản và địa vị quan trọng. Hay công đức c̣n có nghĩa là quét sạch hết mọi điều không khôn khéo, mọi bợn nhơ bụi trần. Đây chính là nghiệp chướng: những ai sở hữu điều đó chính là những người có công đức. Đó là ư nghĩa nơi cư trú dành cho những người thực hiện việc công đức.

Một người Bà-la-môn tên là Sumedha đă sống trong thành phố này.[23] Ông thuộc ḍng dơi khá giả xét về cả phía hai họ nội ngoại và ḍng dơi thuần tuư kể cả mẹ lẫn cha trong suốt bảy đời, không có ǵ phải bác bỏ, hay có thể thay thế được xét về khía cạnh nguồn gốc thân tộc.[24] Ngài rất duyên dáng, dễ coi, hấp dẫn và lôi cuốn, và lại có làn da vô cùng đẹp đẽ; ngài thông thạo ba Phệ Đà, có kiến thức văn chương và nghi lễ với khả năng phát âm rơ ràng và Chú giải, thông thạo truyện cổ tích như là điều thứ năm; ngài biết cách diễn đạt, một chuyên gia ngữ pháp, thông thạo triết học dân gian và các tướng của một Đại Nhân. Nhưng cha mẹ ngài qua đời khi ngài c̣n rất nhỏ. Thế rồi lúc đó có một vị quan trong triều là người giữ kho bạc hoàng gia, mang theo sổ kế toán, xây dựng nhiều kho chứa đựng rất nhiều kho báu, vàng, bạc, kim cương ngọc ngà v.v... và nói: “Hỡi cậu trai trẻ, một trong những thứ này thuộc tài sản của mẹ cậu, một món là tài sản của cha cậu, món khác là tài sản của ông nội cậu, và của cả ông cố nội cậu nữa.” Khi người chủ kho bạc đă chỉ cho cậu kho báu gia đ́nh cậu đến tận bảy đời về trước, người giữ kho bạc nói: “Hăy coi sóc kho báu cho cẩn thận” và người đó truyền cho cậu ngồi xuống. Cậu ta bằng ḷng, nói rằng: “Tốt lắm” và thực hiện những hành vi công đức, cậu đă sống với vai tṛ làm chủ nhân trong căn nhà đó, v́ vậy người ta đă nói rằng:

IIA 5. Trong thành Amaravatī có một người Bà-la-môn tên là Sumedha, là người tích lũy được vô vàn vô số những điều công đức, lại rất giàu về tiền bạc và mùa màng thu hoạch.

6. Ông là người thuộc ḷng[25] và rất tinh thông thần chú. Thông thạo ba Phệ à và đă đạt tới mức toàn thiện về khoa tướng số cũng như giải Thích Các truyền thuyết và thực thi những nhiệm vụ bắt buộc của một người bà la môn.

5. Trong trường hợp này trong thành phố Amaravatī có nghĩa là trong thành phố có tên là Amaravatī.

5. Tên là Sumedha:  đây thông thái (trí tuệ) được gọi là trí thông minh (medha), dễ thương (su-dhara) nơi ngài, thật đáng tán dương ca tụng hết mực. Chính v́ thế ngài được đặt tên là Sumedha (có nghĩa là trí thông thái dễ thương).

5. Bà la môn[26] có nghĩa là: một người bà la môn chuyên xướng kinh tụng, và thuật lại các thần chú. [68] Nhưng các vị Ngữ Pháp lại cho rằng ông là một người Bà-la-môn thuộc ḍng dơi Phạm Thiên. Và các vị thánh lại cho ông là một người thầy brahman (Bà la môn) v́ ngài đă tránh được mọi điều bất thiện.

5. Tích lũy được vô số kể (công đức) có nghĩa là việc tích lũy các công đức (là sở hữu cách số nhiều) Các công đức tích luỹ được (từ ghép). Và tích luỹ vô số công đức, ngài đă tích luỹ được vô số các hành vi công đức có nghĩa là ngài tích luỹ được vô số tài sản giàu có.

5. Có được những vụ mùa bội thu: người ta nói rằng liên quan đến các vụ mùa bội thu trên đồng ruộng và trong kho lẫm; điều này nên được hiểu là các vụ mùa bội thu thường xuyên cần thiết cho việc tích luỹ thực phẩm lương thực.

6. Một người thuộc ḷng (ajjhāyaka) có nghĩa là một người chuyên giải thích thần chú. Người này không biết hành thiền (na jhāyati), thiếu phần tu luyện hành thiền. Như người ta nói rằng, “Những người này giờ đây không hành thiền này Vāsettha. Họ chỉ là những người giải thích thần chú. Chính v́ thế ta thấy tại sao câu thứ hai được sử dụng.”* Như vậy ở đây đă nổi lên một thành ngữ nhằm khiển trách dành cho những người Bà-la-môn vào chu kỳ thế giới đầu tiên đă lơi là trong việc hành thiền. Nhưng giờ đây, nói rằng: “ngài thuộc ḷng nhắc lại điều đó” có nghĩa ông là một người nhắc lại, nói rằng, “Ông là người giải thích thần chú” có ư nghĩa như vậy. Chuyên gia trong việc giải thích thần chú[27] có nghĩa là người đó thường xuyên suy xét đến các câu thần chú.

6. (Thông thạo) ba Phệ Đà có nghĩa là giỏi về ba Phệ Đà đó là: Phệ Đà Rig, Phệ Đà Yajur và Phệ Đà Sama. Nhưng từ Veda này nên được hiểu như là: kiến thức, niềm vui và các bản văn. Trong các văn cảnh như thế, “ta nhận[28] ra được nơi người bà la môn đó như là một đạo sư phệ đà. Một người không có học. Không dính dáng ǵ đến cơi Dục giới.”*1. Điều này được coi như là kiến thức hiểu biết. Trong các đoạn văn cảnh như, “Người nào, bị súc động, sẽ đi rong chơi khắp trần gian.”*2 Đây là điều được coi như là niềm vui. Trong các văn cảnh như câu “chế ngự được ba Phệ Đà. Thông thạo các từ vựng và các nghi lễ.” điều này được coi như là bản văn. *3  đây là ám chỉ các bản văn.

6. Chế ngự được có nghĩa là biết hoàn hảo trong việc phát biểu ba Phệ Đà trên làn môi.[29]

6. Nơi khoa tướng số: tướng là những dấu chỉ xuất hiện trên người phụ nữ. Trên người đàn ông.[30] Những tướng thấy trên Đại Nhân v.v...

6. Nắm vững được các truyền thuyết có nghĩa như ta nói, Như vậy tuy nhiên điều đó đă xảy ra” trong một số các bản văn đa dạng bao gồm trong truyền thuyết cổ liên quan đến những cách diễn tả thuộc loại này.

6. Nắm vững được những nhiệm vụ bắt buộc có nghĩa là trong những nhiệm vụ bắt buộc của người Bà la môn hay theo các đạo sư của họ chỉ dạy.[31]

6. Đă đạt đến Ba la mật có nghĩa là ngài đă trở thành một đạo sư nổi tiếng khắp nơi, v́ đă chứng đắc Ba la mật.

Thế rồi một ngày nọ, nhà thông thái Sumedha, sung sướng và khôn ngoan chứng đắc mười ân đức đặc biệt, ngồi thiền trong tư thế kiết già hạnh viễn ly, lưng thẳng tắp, trên tầng lầu toà lâu đài và ngài miên man suy nghĩ: “Phải tái sanh và đầu thai trở lại thật là điều đau khổ biết bao, v́ phải liên tục hủy hoại thân xác trong những dịp tái sanh. Chính v́ thế chắc chắn ta phải trải qua sanh lăo bệnh tử, ta phải t́m cho ra trạng thái phi sinh, phi lăo, phi bệnh, phi tử, t́m ra níp bàn là nơi hạnh phúc bất tận và mát mẻ thoải mái[32]. [69] Được giải thoát mà không phải xa vào cảnh tù tội tái sanh.[33] T́m cho Chánh Đạo dẫn đến Níp Bàn phải được tu luyện thông qua một Chánh Đạo duy nhất”[34] Bởi vậy người ta mới nói rằng:

IIA. 7. Ngồi thiền ở nơi vắng vẻ quạnh hiu, thế rồi ta suy nghĩ: tái sanh chính là nguồn tạo mọi đau khổ cũng như t́nh trạng phá huỷ thân xác ta.

8. Chắc chắn ta phải trải qua sanh, lăo, bệnh và tử là hoàn cảnh ta phải chấp nhận. Ta phải t́m kiếm an tịnh đó chính là không già nua, bất tử, và an toàn.

* D iii. 94 ta thấy có ghi là tatiyaṃ akkharaṇ, câu đầu tiên được sử dụng lại cho là Brhamaṇā, câu thứ hai là jhāyakā. Và câu thứ ba là ajjhāyakā. Xin cũng đọc thêm Chú giải Trường Bộ Kinh (DA) 247. Chú giải Tăng Chi Bộ ii. 261 nói về đoạn này. Akkhara, trong số các nghĩa khác, là một đoạn văn hay một từ trong các mẫu tự.
*1 Sn 1059; cũng trong các trang 176, 1091.
*2 A ii. 63, Vv 34 27. Kvu 534,v.v...
*3 Xin đọc bản văn 67.

9. Giả sử sau khi ta đă dẹp sang một bên cái thân xác hay thối rữa này, tràn đầy rác rến phân tro, liệu ta có thể tiếp tục trở thành xả và không quan tâm chăng?

10. Chắc đă có, và đă phải có thứ chánh đạo đó; và không thể nào không hiện hữu thứ chánh đạo đó. Ta sẽ t́m kiếm chánh đạo đó để có thể tận diệt hoàn toàn cảnh tái sanh.

Và giờ đây, sau khi đă đưa ra một chuỗi các đoạn kệ và ư nghĩa những ḍng chữ khó hiểu, chúng ta sẽ tiếp tục.

7. Trong trường hợp này nơi vắng vẻ quạnh hiu có nghĩa là ở trong chỗ riêng tư.

7. Ta suy nghĩ như vậy: có nghĩa là một phương pháp suy luận phải được t́m thấy bằng cách diễn tả: “Ta đă suy diễn ra như vậy.

7. Thế rồi có nghĩa là trong thời gian đó vị thông thái Sumedha.

7. Ta đă suy nghĩ như vậy có nghĩa là giờ đây Đức Thế Tôn tự đồng nhất với chính ḿnh thể hiện nơi vị thông thái Sumedha. Chính v́ thế, cách giải thích “thế nên ngài nói chính ta là vị Sumedha.” Đức Thế Tôn đă nói như một người tối cao nơi các chúng sanh, nói rằng, “Thế rồi ta đă suy nghĩ như vậy.”

8. Có khả năng phải chết có nghĩa là nguyên nhân phải chết. Đây là phương pháp dành cho các từ c̣n lại tiếp theo dưới đây.

8. An tịnh có nghĩa là Níp Bàn

9. Giả sử đây là một tiểu từ hiểu theo nghĩa suy nghĩ về[35]. Ư nghĩa ở đây là “Nhưng giả sử ta”

9. Thân xác phân hủy có nghĩa là một thân xác trở thành phân huỷ.

9. Đầy tràn mùi hôi thối đa dạng[36] có nghĩa là mang theo mùi hôi thối đa dạng như: mùi khai nước tiểu, mùi thối của phân, mùi tanh của mủ, máu, mật, đờm dăi, nước miếng, nước nhầy, v.v...[37]

9. Xả có nghĩa là không có ước muốn nào cả.

10. Đă hiện hữu có nghĩa là có thể đạt đến được mà không phải thất bại.

10. Chắc phải có (hehiti) nghĩa là sẽ có (bhavissati). Đây là một câu dùng để suy nghĩ về điều ǵ đó.

10. Chắc chắn điều đó sẽ xuất hiện có nghĩa là không thể nào điều đó lại không hiện hữu v́ lư do chỉ có một chánh đạo duy nhất. Nhưng chánh đạo đó phải hiện hữu (hetuye)”[38] có nghĩa là thông qua hiện hữu làm nguyên nhân không phải không có. Đơn giản là như vậy chính là ư nghĩa.

10. Về giải thoát chung cuộc khỏi tái sanh có nghĩa là v́ việc giải thoát khỏi gông cùm tái sanh.

Để biến những suy nghĩ của ngài trở nên rơ ràng, giờ đây ngài lên tiếng, bắt đầu như sau. Ngay cả khi. V́ ngay cả khi hạnh phúc xuất hiện như là điều đối nghịch với nỗi thống khổ trên trần gian này, chính v́ có tái sanh tồn tại nên nhất thiết không tái sanh cũng phải tồn tại như là điều trái nghịch; [70] và chính v́ có khí nóng th́ cũng có cái ta gọi là khí lạnh để làm giảm khí nóng đi. Chính v́ thế phải có điều ǵ đó làm giảm đi và dập tắt được những ngọn lửa tham lam v.v...; và chính v́ cũng có Phật Pháp đáng yêu không chê vào đâu được là điều trái nghịch với điều bất thiện và những điều khốn khổ. Cũng thế nếu đă có tái sanh au khổ, từ đó mọi tái sanh cần được triệt bỏ, th́ cũng phải có hiện trạng phi tái sanh chính coi như là Níp Bàn. V́ vậy người ta nói rằng:

IIA 11. Ngay cả khi nỗi sầu khổ tồn tại, th́ cả hạnh phúc cũng tồn tại nữa. Chính v́ tái sanh tồn tại, thế nên phi tái sanh cũng hiện hữu và điều ta mong ước có được.

12. Ngay cả khi khí nóng hiện hữu, th́ khí lạnh cũng tồn tại. Chính v́ có ba loại lửa tồn tại thế nên Níp Bàn là điều đáng mơ ước vậy.

11. Ngay cả khi là một tiểu từ hiểu theo nghĩa giống như.

11. Hạnh phúc có nghĩa là hạnh phúc tốt tiêu diệt nỗi khốn khổ thân xác và tâm linh.

11. Tái sanh có nghĩa là đang được tác tạo ra.

11. Phi tái sanh có nghĩa là không được tác tạo ra. Đang khi tái sanh là điều tồn tại, điều có khả năng không tái sanh cũng là điều đáng ước ao vậy

11. Ba ngọn lửa tồn tại: ư nghĩa ở đây là khi ba ngọn lửa tham lam, v.v... tồn tại.