|
Nguyên
tác: Supra-Mundane, Psychic
Powers PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
[01]
PUBBENIVĀSĀNUSSATIÑĀNĀ
NHỚ LẠI TIỀN KIẾP có khả thi hay không? Bằng cách nào Đức Phật đă thể hiện được khả năng này? Trước khi trả lời câu hỏi đầy thách thức này, ta nên nghiên cứu những đoạn văn trong Kinh Phật trích dẫn những lời Đức Phật dạy về vấn đề này. “Một vị tỳ khưu nhập thiền định (samadhi), do đó tuệ giác của ngài được thanh tịnh và sinh động, gạt bỏ được hết những ảnh hưởng phiền năo, tuệ giác tỳ khưu trở nên ổn định, linh hoạt, không ǵ lay chuyển nổi, chỉ một mực hướng tới nhập tuệ giác do vậy ngài có thể nhớ lại được những tiền kiếp. Rồi tỳ khưu c̣n có thể nhớ lại được rất nhiều kiếp sống trong quá khứ, nghĩa là, một, hai, ba, bốn, năm kiếp người, rồi mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm kiếp; thậm chí hàng ngàn hàng vạn kiếp nữa là đàng khác, xuyên suốt cả thành kiếp (Saṃvatṭa), kiếp (vivaṭta). Tỳ khưu nhận ra nơi các kiếp đó ngài đă có một danh xưng, sinh ra trong một gia đ́nh nhất định nào đó, có màu da, tiếng nói và đă sử dụng những đồ ăn thức uống nhất định nào đó, ngài đă cảm nghiệm được nỗi đau khổ và niềm hạnh phúc nào đó rồi lại trải qua một tuổi thọ nhất định; cuối cùng ngài đă “từ giă” kiếp sống đó và rồi lại tái sanh vào một cơi khác. Điều này chứng tỏ tỳ khưu có thể nhớ lại rất nhiều kiếp sống đă qua cùng với những chi tiết cuộc đời liên quan đến kiếp sống đó. “Ôi, tâu Hoàng Thượng, giống như một người rời khỏi nhà ḿnh và đi đến một nơi khác, rồi lại rời khỏi nơi ở đó và đến ở một nơi khác nữa. Để rồi từ đó người này quay trở lại chính ngôi nhà thân thương của ḿnh. Người đó có dư khả năng nhớ lại những hành vi ḿnh đă làm trong quá khứ ngay tại căn nhà này, người đó biết được đă đi đứng ra sao trong ngôi nhà đó, biết được lư do tại sao và bằng cách nào ḿnh đă rời khỏi căn nhà thân thương của ḿnh để đi tới nhà của một người xa lạ nào đó, trong ngôi nhà xa lạ đương sự đă đứng ngồi ở đâu nói năng những ǵ và giữ thinh lặng như thế nào…” Những lời Đức Phật kể trên được trích từ Phẩm giới uẩn Sīlakkhandha trong tác phẩm “Trường Bộ Kinh (Long Sayings) (S. 9. 107) Đây là những lời Đức Phật đă nói với nhà vua Ajatasatu, mô tả lại những kết quả đáng mong đợi của những ai sống cuộc đời ly tục (vô gia cư) theo hệ thống Phật giáo, bắt đầu với những ai thuộc giai đoạn mở đầu n.l.(nghĩa là) những kết quả do Ngũ Giới hay Sīla đem lại. Vào cuối mỗi giai đoạn như vậy nguời đó khẳng định được thành tích do những kết quả đó đem lại đă đạt được trong cuộc đời này, tỷ như trong khi đă kinh nghiệm qua quăng đời đó, họ đă đạt được những kết quả và tiến bộ nào, chẳng cần phải t́m kiếm đâu xa trong cuộc sống tương lai cả. Một điều đáng ghi nhận đó là những khả năng đó chẳng phải chỉ dành riêng cho Đức Phật, chỉ ḿnh ngài mới có được khả năng đó, v́ một số đồ đệ khác của ngài cũng đă thực hiện được như vậy, chỉ cần họ đạt đến được một mức độ nhập thiền nhất định nào đó, gồm Tứ thiền (4 th Jhana) cùng với một vài khả năng thuần thục hay là Vasī nhất định nào đó. Chiều sâu hay cao độ trong bậc Thiền này thể hiện ở mức độ có đặc tính “lăng quên” toàn bộ môi trường bên ngoài, đặc biệt là khả năng thần kinh nhĩ không phản ứng lại bất kỳ tiếng động bên ngoài nào, ngay cả tiếng sét đánh ngang tai. Đồng thời thân xác cũng chẳng c̣n phản ứng nào nữa, thần kinh thân cũng ngừng hoạt động ngay cả khi có bất kỳ người nào hay sức mạnh bên ngoài nào đó gây huyên náo hay kích động. Tuy nhiên tuệ giác của họ vẫn sống động, và tâm họ hoàn toàn tỉnh táo. Chẳng c̣n một suy tư nào xảy ra trong suốt thời gian đó.
Đặc Tính Thiền Phải Có
Điều này có nghĩa là trong những sát na đó toàn bộ tâm tham dục hoàn toàn bị diệt trừ. Thời gian thân xác đó ngồi thiền bất động trong bao lâu không quan trọng, thân xác chẳng c̣n cảm thấy t́nh trạng căng thẳng hay mệt mỏi nào nữa. Muỗi đốt hay bất kỳ loại côn trùng nào cũng không thể gây phiền nhiễu họ được nữa. Lúc này Tuệ Giác được khống chế và thanh tịnh toàn diện, do đó khả năng tạo ra những h́nh ảnh tâm linh sống động rơ ràng y hệt như mắt thường nh́n thấy được. Tốc độ tạo qua đó h́nh ảnh tâm linh này được tạo ra chính là phản ứng trực tiếp và ngay tức khắc với ước muốn hay ư định của ta. Nguồn sáng nội tâm đó sáng rực lên và được khống chế hoàn toàn. Đây chính là điều kiện thiền cần thiết để nhớ lại tiền kiếp. Một yếu tố khác nữa cũng đáng lưu ư đó là trước khi một thiền sinh (aspirant) có thể nhớ lại được tiền kiếp, người đó phải có khả năng gợi nhớ lại bất kỳ điều ǵ đă diễn ra với bản thân đến từng chi tiết như đang diễn ra trong suốt cả cuộc đời hiện tại vậy, có thể là ngày hôm trước, tháng trước hay năm đă qua hoặc lâu hơn thế nữa. Tất cả những điều đó phải xuất hiện được trong thâm tâm một cách chính xác tùy theo ư muốn không sai lầm. Không những đến lúc khả năng này có thể đạt đến không gian và thời gian nhớ lại được những biến cố này là hiện thực và có thể chấp nhận được. Điều này chứng tỏ con người hiện đại ngày nay có dư khả năng đạt đến được thành tích phi thường hay phép lạ (thần thông) y như những ǵ đă được đề cập đến trong Kinh Phật.
Tam Minh
Hiện nay, theo Kinh Phật chúng ta đă biết được Đức Phật có khả năng nhớ lại tiền kiếp của chính ḿnh lẫn của người khác nữa. Một chứng minh rơ ràng nhất đó là ngài đă đạt được toàn giác, n.l (nghĩa là) vào đêm ngài đạt đến Giác Ngộ. Chính thời điểm đó, chúng ta nghe nói vào canh nhất trong đêm Đức Phật đă đạt Tuệ Giác, bởi đó ngài nhớ lại được những kiếp đă qua. Điều này người ta gọi là Túc Mạng Thông hay Nhớ Lại Tiền Kiếp (pubbenivāsānussatinñāṇa). Vào canh hai ngài đạt đến Tuệ Giác qua đó ngài có thể “nhận rơ” toàn bộ thế gian hay là các cơi gồm nhiều kiếp sống con người và được gọi là Hóa Sinh (Opapātika) (nghĩa là sinh ra một cách tự nhiên) điều này được gọi là Thần thông (Cutūpapātanñāṇa) (có nghĩa là luân hồi, tái sanh). Vào canh ba ngài đạt đến Lậu tận thông (āsavakkhayanñāṇa) (tận diệt được toàn bộ những lậu hoặc), nhờ đó ngài tận diệt vĩnh viễn một lần, toàn bộ những phiền năo c̣n đang âm ỉ tận đáy sâu trong thâm tâm của ngài. Có một tham khảo khác nữa là những đoạn Kinh Tụng, trước tiên là lời tán dương các ân đức Đức Phật đă thực hiện, một trong các ân đức đó chính là Minh-Hạnh-Túc (Vijjācaraṇasampanno), có nghĩa là Đức Phật là đấng toàn thiện cả về Minh (Vijjā) lẫn Hạnh (Caraṇa). Điều đầu tiên tức là Minh (Vijjā) được ám chỉ Tam Minh như đă đề cập đến ở trên. Tuy nhiên theo nghĩa rộng, c̣n gồm ba Phép Thần thông (Abhinñnñā) khác nữa nghĩa là những Thần Túc Thông (Iddhividhi) – một số biến hóa thần bí - Thiên Nhĩ Thông (Dibbasota) và Tha Tâm Thông (Cetopariyanñāṇa) - nghĩa là đọc được tâm của người khác. Đức Phật cũng đă đạt đến được toàn bộ ba loại Minh vừa kể trên như đă được biểu thị trong tính ngữ ‘Vijjāsampanno’ (Minh cụ túc). Hạnh ở đây muốn ám chỉ hành động tu luyện hay là giới, điều này có nghĩa là Đức Phật không chỉ toàn thiện nhờ nhiều loại minh đa dạng, nhưng c̣n ở cả giới hay hạnh kiểm rất đáng tin cậy và hoàn toàn vị tha của Ngài. Như vậy chẳng c̣n ǵ phải nghi ngờ, ngay cả những tham khảo trong Kinh Phật liên quan đến một thực tế là Đức Phật: thực sự có thể Nhớ Lại Tiền Kiếp tức là gợi nhớ lại được rất nhiều những biến cố thuộc nhiều kiếp đă qua, cả của riêng ngài lẫn của người khác nữa. Thực sự trong những bài thuyết pháp ngài diễn giảng cho nhà vua Ajātasattu, ngài chỉ đề cập đến trường hợp các vị tỳ khưu nói chung. Nếu quả thực một đồ đệ của Đức Phật lại có khả năng thực hiện được điều này, th́ c̣n nghi ngờ ǵ nữa chính Đức Phật lại không thể thực hiện được tốt hơn thế rất nhiều, hay ít nhất th́ cũng tốt hơn những ǵ các đồ đệ của ngài thực hịên được.
Tại Sao Và Bằng Cách Nào
Giờ đây lại nổi lên một câu hỏi nữa đó là: tại sao nhập thiền ở mức độ cao nhất như vậy lại khiến cho các thiền sinh (aspirant) nhớ lại được tiền kiếp và bằng cách nào ta có thể thực hiện được điều này. Chính v́ thế tốt hơn hết chúng ta nên theo dơi câu chuyện sau đây được kể lại từ chính kinh nghiệm thực tế của Cô Sriphen Catadasri trong đoạn văn cô mô tả trong cuốn sách nhỏ của cô mang tựa đề “ĐẾN THĂM THÁNH ĐỊA” trang 46 (To The Land Of Buddha). Vào ngày 18 tháng 11 chúng tôi rời thành phố Korakkapur vào lúc năm giờ sáng, hướng về Lumbini nằm trong lănh địa vương quốc Nepal. Đúng 9.30 sáng chúng tôi đến vùng tiền đồn Naugarh, tại đây vị trưởng đoàn, là cô Piyawan đă thu hết hộ chiếu của chúng tôi, rồi đến nộp cho văn pḥng nhập cư để xin phép vào Nê-pan. Măi đến gần 11giờ trước khi chúng tôi mới tới được Lumbini là địa điểm đă nhắm trước. Đường xá quá nhiều bụi bậm và mấp mô là khúc đường dẫn đến Lumbini đến nỗi quăng đường này là cả một cực h́nh thực sự đối với mỗi người chúng tôi. Người ta cho chúng tôi biết trên đường đi phong cảnh hết sức ngoạn mục, nếu trời tốt chúng tôi có thể nh́n thấy cảnh núi Hy-mă-lạp-sơn hùng vĩ. Nhưng có lẽ do bụi bậm và trời nóng, tầm nh́n quá hạn chế vào ngày hôm đó chúng tôi chẳng nh́n thấy điều ǵ thú vị ngoại trừ những cánh đồng khô cằn, nứt nẻ hai bên đường đi. Tôi cảm thấy tâm nặng nề và tự nhủ: chúng ta đang trên đường đi tới những nơi giúp chúng ta được Giác Ngộ, chứ không phải đến nơi vui chơi giải trí thoải mái. Chính v́ thế cảm giác này đem lại tư tưởng “ly dục”. Cảm nhận này lẽ đương nhiên phải được mong mỏi chờ đợi như là một điều đương nhiên. Ngay do chính tư tưởng “ly dục” này tôi được lôi kéo vào nội tâm và đă trở thành quá hiển nhiên về những ǵ đang diễn ra bên ngoài. Rồi sau đó h́nh như tôi được chứng kiến một rặng núi Hi-ma-lạp-sơn (Himalaya) kéo dài đến vô tận với thật nhiều những cánh rừng vĩnh cửu nằm dưới nhiều ngọn núi phủ đầy tuyết trắng, những vùng dốc thấp hơn trải dài như một chiếc áo choàng bằng lá luôn phủ lên một màu xanh mướt. An sâu dưới đó là những ḍng sông hung hăn, đem đến chất phù sa bổ dưỡng cho một vùng tiểu lục địa h́nh hoa sen. Tuy nhiên sức lạnh êm dịu cũng đă được cảm thấy và chúng ta nghe thấy những tiếng ŕ rầm của những con suối cũng như lạch nhỏ dưới chùm lá vấy bùn với những đóa hoa thơm ngọt ngào đua nhau khoe màu khoe sắc. Luồng gió lạnh thoáng thổi qua những đồ trang sức cho cánh rừng nổi bật lên trên những thảm cỏ xanh ngay phía dưới, tạo ra trên đám cỏ đó một bản phác thảo muôn màu muôn vẻ hết sức ấn tượng không bút nào tả xiết. Nằm giữa những cảnh quan đẹp đẽ và thanh tao hiện ra một cây cổ thụ oai vệ nổi vượt lên trên tất cả những lùm cây bao quanh đó, với những cánh hoa màu trắng tinh rải rác khắp vùng giống như những bông tuyết. Chính phía dưới cái tàn lá lạnh lẽo của cây cổ thụ oai phong lẫm liệt đó hơi thoáng toát ra những luồng ánh sáng sáu màu chói chang vừa thoáng xuất hiện, chiếu sáng cùng một lúc cả một dăy ngân hà gồm toàn những cánh hoa đang nở trong vùng đó. Rồi sau đó là tiếng tụng quen thuộc và đều đặn Bài Kinh Phật “Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi...” và tôi như nghe thấy tiếng vị hoàng đế vĩ đại của chúng ta lên tiếng, “hăy đến lấy một ít đất thánh ngay tại nơi Đức Phật xuất hiện lên cơi đời này lần đầu tiên và đem về trưng bầy như là biểu tượng cho ngài tại những Ngôi Chùa Tự Do, Chùa Rừng Thông (Pine camp), thị trấn Lomsak thuộc tỉnh Petchaboon, Thái Lan.’ Rồi giây phút tiếp theo sau đó tôi hoàn toàn ư thức được điều ǵ đang diễn ra xung quanh tôi. Lúc này chúng tôi hầu như đă tới sát cổng vào Lumbini. Tôi xuống xe và đi theo những người khác, trong t́nh trạng nửa tỉnh nửa mê, cảm thấy bồng bềnh như đang trôi lơ lửng trên không hơn là đang đi trên đất. Sau đó ít phút tôi tự hỏi : đâu là nơi hài nhi Siddhattha đă đặt bước chân vinh quang đầu tiên lên hành tinh trái đất này. Như thể trả lời cho câu hỏi trong tâm, tôi lại bị lôi cuốn vào trong nội tâm một lần nữa và tôi nh́n thấy một cột sáng chói chang nổi lên tại một nơi không xa lắm. Luồng sáng đó lại gặp một luồng sáng khác nữa cũng chói chang không kém. Điều này diễn ra gần chỗ một cây bồ đề thật lớn, kế bên một chiếc đầm sen h́nh như đối diện với tịnh xá Māyādevī. Tôi trao đổi với Acharn Phorn chúng ta phải đến nơi đó. Ông hỏi tôi tại sao lại không xuất phát từ chỗ cây Bồ Đề gần kề bên tịnh xá kia. Nhưng tôi không trả lời một tiếng nào cả rất có thể v́ tôi không thể mở miệng được, rồi sau đó lại rơi vào t́nh trạng nửa tỉnh nửa mê nữa. Tôi dẫn cả đoàn chúng tôi tới nơi hai luồng ánh sáng kia xuất hiện rồi gặp nhau gần bên cây Bồ Đề. Rồi Acharn Phorn thắp lên những ngọn nến, và những nén hương rồi cầu khẩn những chư thiên từ trời cao chứng giám cho ḷng thành của chúng tôi trước khi bắt đầu tụng kinh. Sau đó tôi ngồi xuống và nhập thiền trong một thời gian dài. Chính trong thời gian nhập thiền đó đă diễn ra buổi tụng kinh nhịp nhàng bài kinh Buddhaṃ Saraṇaṃ Gacchāmi tại phía hậu trường, trong khi đó ở phía tiền sảnh có những âm thanh vang rền vọng lên “Đây là chỗ ngài Bồ Tát đản sanh” V́ là một ngôi Thánh Tháp cuối cùng trên đường chúng tôi đi, báo hiệu một giai đoạn giáo Pháp phát triển sau ngày Đức Phật đă được Giác Ngộ. Pháp này được dùng làm luồng sáng đèn hiệu. Cứ theo luồng sáng đó cả cơi trần gian này sẽ được chúc phúc trong b́nh an đích thực. Bóng đen bao trùm thế giới trong một thời gian dài đă bị đẩy lùi, nhường chỗ cho luồng sáng giáo Pháp chói chang rạng chiếu. Kiếp sống thuộc toàn bộ những ǵ mà bản chất là phát triển, ngay cả núi đồi và ṿm trời - tất cả những thứ đó được gọi là hành tinh này, đều được tươi mát trở lại khi được tắm trong luồng sáng giáo Pháp đó. Chính v́ thế hăy tụng Kinh Buddhaṃ Saraṇaṃ Gacchāmi và để cho kinh đó ch́m sâu vào tận đáy ḷng các bạn. Đó là điều đang vang vọng lên khuyên nhủ từng người chúng ta. Sau khi đă lấy một chút đất thánh ngay tại địa điểm đó, chúng tôi đến một thiền viện Nê-pan, tại đó Cô Piyawan đă sửa soạn bữa ăn trưa cho cả đoàn. Sau khi đă dàn xếp xong, như thường lệ việc phân phát Bố Thí Phā-pā sẽ diễn, chúng tôi rời khỏi nơi sanh của Đức Phật với suy tư nhẹ nhàng, rất khác nhau chẳng ai giống ai, tùy thuộc vào xu hướng và sở thích của mỗi người.” Những đoạn văn trên được trích từ cuốn sách nhỏ mang tựa đề “ĐẾN THĂM THÁNH ĐỊA” mô tả một phần Thị Kiến của Cô Sripen có được về những ǵ đă xảy ra dưới một góc độ khác xung quanh khu rừng vùng Lumbini. Hiện tượng là một cảnh tượng nguyên bản đă diễn ra vào chính ngày giờ và địa điểm Hài Nhi Siddhattha đă sinh ra hơn hai ngàn năm trăm năm qua. Những ai đă đọc tác phẩm kể trên của bà sẽ biết được bất kỳ điều ǵ bà đă xem thấy tại những địa điểm khác có liên quan đến cuộc đời Đức Phật cũng đều được mô tả như là những cảnh đă thực sự diễn ra vào thời đó. Chính v́ thế, đây là bằng chứng gián tiếp khẳng định khả năng có thể nhớ lại được biến cố đă qua, hay nói chính xác hơn, đó chính là Tiền Kiếp vậy. Tuy nhiên, rất có thể vẫn c̣n tồn tại một nghi ngờ nào đó, có thể hiểu được đặc biệt về sự thật những ǵ bà đă được chứng kiến. Có người sẽ hỏi đâu là bằng chứng để xác minh những cảnh đó hoàn toàn giống như những ǵ đă diễn ra từ hồi xa xưa? Để trả lời câu hỏi này và để làm rơ mối nghi ngờ c̣n phải bàn bạc trong nhiều chương sách dài hơn nữa và tốt hơn hết ta nên gác vấn đề này sang một bên và chưa nên đi đến một kết luận chung cuộc nào cả. Chính v́ thế rất có thể vào một ngày nào đó một số người sẽ thay đổi thái độ và t́m ra được một phương thế thuận lợi hơn để làm điều này. Đối với một số người khác đă quen biết khả năng của cô Sripen trong lănh vực này, sẽ sẵn sàng đi đến chỗ hiểu cô và tin tưởng là lời kể của cô là thực tiễn và đáng tin cậy. Thêm vào đó họ sẽ sẵn sàng hiểu ra và được chúc phúc với một đức tin không có ǵ phải thắc mắc cả. Thực vậy, một số đồ đệ của Đức Phật cũng đạt được khả năng làm gia tăng niềm tin nơi Tam Bảo. Chẳng có điều ǵ là quá phóng đại đối với Niềm Tin (saddhā) này cả. nếu ta gọi đó là niềm tin hay đức tin th́ cũng vậy. Có tuệ giác hay trí thông minh hỗ trợ, một niềm tin nơi Tam Bảo chắc sẽ trở nên sâu xa và vững vàng không hề lay chuyển. Niềm tin đó là kho báu vô giá, vượt hơn hẳn các kho báu vật chất hay bất kỳ loại giàu sang phú quí nào. Độc giả nên đọc lại một lần nữa đoạn văn được trích trong tác phẩm của Cô Sriphen, và quyết định xem cô ta có bịa đặt những câu chuyện đó để lừa bịp người khác hay không. Thực chất mà nói, đối với những ai biết về tác giả, không có ǵ phải lưỡng lự để hạ cố tin tưởng bài tường thuật của cô cả. Đối với tôi dứt khoát chẳng có mối nghi ngờ nào cả. V́ tôi hiểu được từ góc độ Phật giáo: tại sao điều này lại đúng và thực hiện được bằng cách nào. Thông qua những bản trắc nghiệm nghiêm túc trước đây về những vấn đề khác, tôi đă có thể hiểu được những cảnh về Lumbini được cô mô tả hoàn toàn giống như những ǵ đă xảy ra hai mươi lăm thế kỷ qua. Ngài ra mục tiêu đầu tiên của chúng ta là đi đến Ấn Độ đă đến lúc phải mang về một ít đất thánh từ bốn ngôi thánh tháp có liên quan đến những biến cố về cuộc đời của Đức Phật và đem về trưng bầy tại Ngôi Chùa Tự do, để nhớ lại nhà vua giải phóng Naresuan vĩ đại của chúng ta. Những chuyện kể này và c̣n nhiều chuyện kể khác của cô Sriphen chính v́ thế đă trở thành những sản phẩm không thể tưởng tượng được dùng để củng cố cả những sự kiện lịch sử lẫn sự thật về việc nhớ lại tiền kiếp như là một khả năng thần thông cả Đức Phật và các một số đệ tử của ngài đă thực hiện được. Chính nhờ hiểu thấu đáo tuệ quán hợp lư, nên con người ta có thể đạt đến được niềm tin trung thực và đáng khích lệ nơi nhiều loại tuệ quán và khả năng Đức Phật. Trung thực mà nói, có nhiều Phật tử cho dù đă nhận Thọ Đại Giới làm tỳ khưu và có trí rất sâu rộng, vẫn c̣n phân vân lưỡng lự trong việc tin tưởng Đức Phật có được những khả năng thần thông và vượt lên trên tầm với của nhiều người phàm phu. Những nhân duyên về điều này có hai lư lẽ: thứ nhất, họ chẳng biết tí ǵ hay chẳng có ai thực hiện nổi điều đó, và hai là họ chẳng hiểu ǵ, bằng ít nhất về mặt lư thuyết, bằng cách nào con người ta có thể đạt được những khả năng đó. Đương nhiên không thể phủ nhận đă có mối hoài nghi như thế và cách biểu lộ như vậy là một kết quả tất yếu gây tổn hại đến diện mạo của Phật giáo. Điều quan trọng hơn chính là có nhiều người hiểu biết rất ít về những tác hại to lớn họ không chủ tâm gây ra cho tôn giáo họ đang tin theo. Cũng chính nhờ nắm được những dữ liệu khẳng định chân lư, khả năng Nhớ Lại Được Tiền Kiếp, nên tôi dám nói rằng chúng ta đă được thưởng công xứng đáng về những phó phẩm không thể mơ tưởng được trong chuyến đi tới Ấn Độ vào dịp này.
Những Vấn Nạn Thông Cảm Được
Lúc này một loạt vấn đề lại nổi lên: Tại sao những hoàn cảnh đă diễn ra trên cơi nhân loại này nhiều ngàn năm về trước vẫn c̣n thấy xuất hiện nơi cơi thiên hà? Liên quan đến những ǵ Cô Sriphen đă chứng kiến đang khi mất liên lạc với thế giới bên ngoài và vấn đề là chứng kiến thấy những cảnh tượng trong quá khứ đó liệu có phải do các các chúng sanh thiên cung giúp tạo ra cho cô thấy được những cảnh tượng đó chăng? Hay toàn bộ những cảnh tượng đó vẫn tồn tại nguyên h́nh như vậy măi măi và chỉ có người nào đạt đến một bậc thiền nhất định và sâu xa nào đó mới có thể nh́n thấy? Những cảnh tượng này có tồn tại giống hệt như vậy nơi các cơi thiên hà khác măi măi như vậy kể từ khi xuất hiện nơi cơi người, làm sao có thể như vậy được? Đây thực sự là những câu hỏi rất có ư nghĩa cần phải được làm sáng tỏ trước khi ta có thể hiểu được hay chấp nhận bất kỳ chân lư nào về Nhớ Lại Tiền Kiếp có thể đạt được như là một chân lư về sự tồn tại các chúng sanh nơi chiều kích được gọi là Hóa Sinh (Opapātika) hay là các tiên cơi hiện đă được rất nhiều nhà tư tưởng và các nhà nghiên cứu Đông cũng như Tây chấp nhận. Trước tiên, ta cần phải nhớ lại chân lư Đức Phật đă quảng diễn cho rằng toàn thể những người trần tục, hoặc ngay cả những vị Tôn giả ở cấp thấp hơn (chưa đạt đến Bậc A-la-hán), họ đều phải tồn tại, hay nói đúng hơn họ vẫn c̣n sống, ở đâu đó trong ba mươi cơi. [1] Điều này bất chấp một sự thật là họ đă chết hàng nhiều thế kỷ, hay thiên đại kiếp, hoặc ngay cả hàng triệu năm và hàng nhiều đại kiếp qua và điều này cho thấy miễn là họ chỉ c̣n một chút Ái dục (Tanha) tồn tại là đủ, được gọi là tham dục (craving) hay là ước vọng (chanda) c̣n sót lại nơi tiềm thức của họ là đủ. Cuộc sống như chính họ ước ao không thể đi đến chỗ kết thúc được ngay cả khi hành tinh trái đất này bị hủy diệt hay bị thiêu rụi toàn bộ cách này hay cách khác. Nhưng thọ mệnh cho dù dưới dạng con người, thú vật, hoặc cây cối, vẫn c̣n tiếp tục tồn tại trong tiềm thức (Vinñnñāṇa), tức là tâm. Có thể được gọi là cơi tiên, hay là cơi hữu tâm, hoặc có thể bất kỳ một tên nào khác. Sau một khoảng thời gian dài, có thể lên tới hàng đại kiếp, khi xuất hiện một hành tinh có thể chứa đựng được cuộc sống như hành tinh trái đất chúng ta, cuộc sống có chiều kích tốt đẹp hay tinh tế đó sẽ lại tái sanh một lần nữa trên hành tinh đó, cho dù được gọi bằng tên ǵ đi nữa hay được định vị ở bất kỳ nơi nào trong vũ trụ. Đây là một chu kỳ cuộc sống vô tận kéo dài cho đến khi nào như đă nói ở trên chỉ c̣n tồn tại một chút ước muốn nhỏ trong chiều sâu ư thức thăm thẳm. Đây chính là căn bản bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật tại vườn Nai Isipatana. Tuy nhiên vẫn c̣n nhiều chi tiết hơn cần được cứu xét về một kết quả từ đó như sau:
Những Cơi Song Hành
Sau thân xác thô thiển cư ngụ trên hành tinh trái đất này tan ră hết, vẫn c̣n tồn tại một vật tương đương hay là phiên bản của thân xác đó dưới dạng tinh tế hơn trong một chiều kích tốt đẹp hơn hay một kiếp sống khác. Một cuộc nghiên cứu hiện đại và có hệ thống đă được khá phổ biến ngày nay. Điều đáng chú ư ở đây chính là sự kiện cho thấy không thể diễn ra như thế được chỉ v́ bằng sức mạnh hay khả năng nội tại của chính tâm thức. Sức mạnh này có thể duy tŕ và nuôi dưỡng phần đối tác hay là phần song hành với thân xác (kể cả tâm là đương nhiên) trong một giai đoạn dài thời gian vô tận. Như vậy một tuổi thọ tối đa chính v́ thế mà dài hơn tuổi thọ tối đa của con người trên trái đất này. Nói theo kiểu toán học ta có thể nhân với n lần độ. Nhưng sự liên tục này không có nghĩa chỉ là đặc quyền của con người mà thôi, toàn bộ những loại sự sống khác đều có phần chia sẻ trong đó. Điều này cũng kể cả thú vật, và cây cối. Đây là điều hơi lạ và khó tin, nhưng lại có thật không thể tưởng tượng nổi. Đó là với sự hiện hữu của những h́nh thái sự sống đó, c̣n tồn tại cùng một lúc môi trường tự nhiên như là núi non, rừng rậm sông ng̣i v.v… thích ứng và đáp lại với thiên nhiên hay là mức độ tâm thức của các cảnh giới hay cơi đó. Chính v́ thế các thức uẩn thuộc mức độ đó đều tham gia tạo ra, thông qua khả năng nội tại riêng của mỗi loại. Như thể môi trường “thiên nhiên” như vậy toàn bộ những ǵ tồn tại ở trong đó đều được phát sinh ra từ khả năng sáng tạo nội tại của tâm thức về cái gọi là “người quan sát” thể lư. Nếu như khái niệm này được chấp nhận. Th́ không có mấy vấn đề liên quan đến việc Nhớ lại các tiền kiếp nữa. Điểm khó khăn nhất, hay nan giải nhất, của vấn đề có lẽ là bằng cách nào những vật không có sự sống như núi non, rừng rú, sông suối v.v… có thể trở thành hiện hữu. Luật thiên nhiên cai quản sự tồn tại của chúng như chúng ta được biết cho đến hiện nay h́nh như tỏ ra không thay đổi và hoàn hảo. – cho dù sự thật là không hề có “thiên nhiên” hay luật tự nhiên nào khác hơn những ǵ chúng ta biết được cho đến ngày hôm nay điều này có nghĩa là, cho đến khi chúng ta bắt đầu rời xa khỏi thiên nhiên, một sự u sầu tuyệt vọng và một điều bất hạnh cuối cùng. Có một câu tục ngữ nói rằng. “C̣n có nhiều điều hơn là mắt ta có thể thấy” Trong trường hợp này có thể trở thành rất hiện thực. C̣n có nhiều điều cao siêu hơn là năm giác quan thô thiển của chúng ta có thể bắt gặp được do thân xác thô thiển của chúng ta có thể làm được”
“Hóa Thạch” Nơi Cơi Hữu Tâm
Để quay trở lại với chủ đề chính công tŕnh nghiên cứu của chúng ta- Đó là pháp vũ trụ tuyệt đối, có thể nói một cách không ngoa chút nào là pháp luôn hiện hữu, ở bất kỳ nơi không gian và thời gian nào đều vẫn c̣n y nguyên như vậy. Một năng lực luôn hiện hữu, trường cửu vô tận và tinh tế vào bậc nhất. Đây là chân lư căn bản nhất - là nền tảng, hay là cơ sở cho những ǵ đă được biết như vật chất và năng lực vượt qua khỏi năng lực lănh hội của năm giác quan thô thiển của chúng ta. Chính là loại hay mức độ năng lực này đă hơi thở sự sống vào cho vạn vật – gồm cây cối, muông thú và con người trên hành tinh này cũng như muôn vàn các chiều kích cuộc sống khác. Nguồn năng lực này không thể bị phá hủy. Hoàn toàn có thể và hợp lư ta thấy rằng một biến cố xảy ra hàng ngàn năm hay ngay cả hàng triệu năm vẫn có thể để lại những tàn dư nơi cơi hữu tâm - và một người quan sát giỏi vẫn quan sát được một lần nữa. Năng lực như vậy, trong trường hợp này chính là mức độ năng lực đương nhiên, là mức độ cao nhất hay tiên tiến nhất về thiền định, hay nhập thiền được gọi là Jhana hay là Thiền Chứng (samāpatti), có thể dùng bất kỳ từ nào bằng tiếng Anh. Chỉ có nhập thiền ở mức độ hay cường độ này ta mới “nh́n thấy” những ǵ c̣n lại của những sự kiện tiền sử được bảo tồn lại trên “đá” nơi cơi hữu tâm. Giống như một nhà khảo cổ học hay là khoáng sản học có thể “đọc” được những biến cố lịch sử thông qua những “hóa thạch” không tiếp đất đó. Chính v́ thế, Đức Phật hay các vị tôn giả có kinh nghiệm tham thiền hay nhập thiền chứng (sāmāpatti). Có thể nhớ lại hay đọc được những “hóa thạch” của chính họ lẫn của người khác, nh́n thấy những sự kiện đó một cách rơ ràng và sống động như thể chúng ta nh́n thấy những vật thực sự và sống động trong cuộc sống hàng ngày của ta. Để nghiên cứu sâu hơn vào từng chi tiết, chúng ta có thể nói toàn bộ những vật thể, có sự sống hay không cho dù h́nh dạng, h́nh thù, màu sắc, âm thanh, khí, vị và cảnh xúc được có như thế nào đi chăng nữa, và có thể bền vững đến đâu chăng nữa, th́ các nhà quan sát tiềm lực (có khả năng) luôn luôn vẫn có thể “quan sát” được. Chúng ta có thể tưởng tượng như chúng được ghi lại bằng một máy ghi h́nh, hay một máy ghi âm, hay bằng bất kỳ một dụng cụ khoa học nào khác như máy ghi h́nh truyền h́nh. Với độ nhạy cao và bền lâu. Hiểu theo nghĩa này các sự kiện đó không bao giờ bị “mất đi” nhưng chỉ biến đổi sang một độ nhậy năng lượng hay một độ tần số cao nào đó mà thôi. Điều này là có thực, và trong thực tế, cuộc sống của con người và con vật trên đời này sau thời kỳ thân xác thô thiển này tan ră hết. Điều đáng lưu ư là có điều rất thực đối với những con vật tuyệt chủng như khủng long đă tồn tại và vẫn c̣n đó, không phải là những hóa thạch chế, nhưng là những thú vật sống động nhưng bằng xương bằng thịt như chúng đă thường tồn tại và di chuyển trên khắp bề mặt trái đất này, trước khi di chuyển đến sống động và khỏe mạnh vào cơi hữu tâm. Chúng sống động hoàn toàn giống như cách con người chúng ta sống động, và hoạt bát, có thể hoạt động thông qua giác quan của chúng. Nói tóm lại, nếu những con khủng long đó vẫn c̣n sống và khỏe mạnh, th́ tại sao con người chúng ta (theo nghĩa rộng) lại không sống động như chúng (cho dù chúng ta không khỏe bằng, như trong trường hợp những con ở trong cơi (cảnh khổ).
Những Sắc Thái Thanh Tịnh
Như chúng ta đă nói ở trên, điểm khó nhất để hiểu làm sao và bằng cách nào các vật không có sự sống như núi non, sông ng̣i và nhà cửa, hoa quả cây cối lại có thể tồn tại được. Ở đây chúng ta nên lưu ư rằng, lúc người ta “chết” trên trần gian này, được “tái sinh” vào cơi vô h́nh, hay cơi thần tiên. Nh́n chung, chúng ta không ra đi một cách trần trụi. Chúng ta xuất hiện nơi cơi thần tiên đó ít nhất là với bản sao chép y hệt với quần áo chúng ta đang mặc vào sát na ra đi đó. Chẳng ai trong chúng ta ra đi với tâm lành mạnh lại nghĩ rằng chúng ta ra đi trần trụi cả. Những thứ quần áo đó họp thành một phần thân xác ta và cũng là “thịt và máu” với tâm của mỗi người chúng ta nữa. Chính v́ thế, hiểu theo nghĩa rộng, môi trường như hoa quả, cây cối, sông suối và đồi núi cũng vậy. Toàn bộ những chúng sanh và những pháp đó đều đi theo với ta, chính v́ vậy Đức Phật đă dạy, toàn bộ những chúng sanh họp thành bốn “giới”, sự khác biệt là ở chỗ nơi cơi vô h́nh và tinh tế của cơi hữu tâm, thực tế này xem ra rơ ràng hơn nơi cơi đời đầy thô thiển này. V́ thế thân xác của những chúng sanh vô h́nh, Đức Phật gọi chung là Hóa Sinh (Opapātika) cũng được cấu tạo do bốn giới căn bản đó, giống hệt như những giới của con người chúng ta trên đời này. Tuy nhiên chúng có phần tinh tế hơn so với bản sao của chúng thuộc cơi đời này. Chính v́ thế mà chúng ta cho là chúng có ‘Sukkhumarūpa’ nghĩa là “sắc tế” với mức độ khả năng cao hơn, tuy nhiên mờ nhạt hơn bản sao của chúng trên cơi đời này. Đối với chúng thân xác, khung cảnh xung quanh rất hiện thực, và sống động như thể chúng vẫn hiện hữu và quan sát được y hệt như trên cơi đời này, giác quan của chúng vẫn hoạt động tốt hoặc ở một số trường hợp c̣n tốt hơn nữa là đàng khác. Chúng tồn tại trên mặt đất này rất vững chắc, chắc chắn, chúng có thể nh́n thấy, nghe, ngửi nếm v.v… theo cách chúng vẫn thường thực hiện trước kia khi vẫn chưa được coi như đă chết. Chúng cũng có nước da khác, có thói quen khác- những điều thích và ghét. Bất kỳ thái độ tâm linh nào chúng vẫn có trên cơi đời này, vẫn thuộc về chúng trên cơi thần tiên đó. Cơi vô h́nh đó lúc này trở thành nơi họ cư trú cũng tạm thời như cơi trái đất này là điều ǵ giống như các trạm, các nhà trọ trên đường di chuyển luân hồi trong cuộc hành tŕnh xoay vần. Thực chất chuyến đi này mang sắc thái con đường ṿng quanh hay quanh co là v́ đối với hầu hết các chúng sanh, xuất hiện trên cơi đời này sau khi đă khởi hành từ một nơi xa xăm nào đó và sau một chuyến hành tŕnh chúng lại rời khỏi cuộc sống này đă được tái sinh ra ở trên trần gian này và chỉ xuất hiện ở đây một lần nữa vào cuối một tuổi thọ tối đa nào đó– điều này cứ diễn tiến thành một h́nh ṿng tṛn. Nơi một số trường hợp c̣n là một h́nh ṿng tṛn đầy khổ ải, cho dù yếu tố thời gian nơi mỗi trường hợp xem ra có vẻ khác nhau rất nhiều. Sự hiện hữu những biến cố “hóa thạch” được lưu giữ trong các hồ sơ vũ trụ (đôi khi được gọi là “Akasic”) làm nổi bật khả năng nhớ lại tiền kiếp và khả năng nhận ra những biến cố được ghi lại nơi cơi hữu tâm của một chuyên viên quan sát được huấn luyện kỹ càng. Tuy nhiên điều này rất khác với khả năng quan sát và giao tiếp với những chúng sanh vô h́nh, Hóa Sinh (Opapātika) bằng những tŕnh độ thiền khác nhau. Vấn đề này có thể gồm lại trong lănh vực Phép Nhăn Thông (clairvoyance) nh́n thấu những vật vô h́nh được dưới dạng cao nhất là Dibbacakkhunñāṇa Thiên nhăn thông hay Cutūpapātanñāṇa có nghĩa là Sanh Tử Thông vậy. Xét trường hợp khả năng cô Sriphen được chứng kiến và đàm đạo với những chúng sanh vô h́nh, đây thực sự vẫn chưa phải là Sanh Tử Thông (clairvoyance) thực sự, v́ nàng vẫn chưa thể nh́n xuyên qua tường, chẳng hạn, và như thế th́ nàng có thể nh́n thấy bất kỳ điều ǵ rất nhỏ hoặc rất xa đối với con mắt thường và không được luyện tập. Khả năng của nàng chỉ có thể được coi như là trạng thái Nhăn Thông mở đầu mà thôi (đầu tiên) và c̣n được gọi là thiền ngủ (sleep meditative) có nghĩa là thiếp đi lúc nhập thiền là lúc con người có thể nh́n thấy những người đă quá cố. Tuy nhiên vẫn có sự khác biệt, nơi cô chỉ là giấc ngủ trong niệm và đă được kiểm soát, rất thoải mái, theo ư muốn và ngay tức khắc. Biến cố Cô Sriphen đă có thể quan sát thấy những khung cảnh thực sự đă diễn ra hàng ngàn năm về trước nơi những địa điểm trong cuộc đời Đức Phật không phải là nhớ lại những biến cố đă qua. Khả năng thiền của cô đă được gia tăng do khả năng của các chúng sanh cơi thiên họ biết rơ nàng đang ở vị thế cần được trợ giúp bằng những phương cách đó và thực sự Cô đă thực hiện được như vậy là do sự trợ giúp của các chúng sanh thần tiên vậy.
Chẳng Có Ǵ Phải Tan Biến Luôn
Lúc này lại có một vấn đề – rất có ư nghĩa đối với những ai muốn nghiên cứu và đào sâu đến từng chi tiết. Chúng ta biết bằng cách nào, toàn cảnh cụ thể của công viên Lumbini đă xuất hiện hơn hai ngàn năm qua, không thể biến khỏi cơi trần gian này một cách như thế, nhưng không thể được, v́ chẳng c̣n dấu vết ǵ tồn tại cho đến ngày nay. Nhưng cô Sriphen vẫn có thể nh́n thấy thông qua phép thiền của cô, quang cảnh và biến cố đă diễn ra tại đó vào thời đó. Liệu có thể đó là cảnh thực tại và biến cố đó vẫn tồn tại chăng, và chờ có người “quan sát” đầy tiềm năng để mà nh́n thấy chăng? hay có thể bất kỳ ai đó cũng có nh́n thấy được chiếu lại hay là được tái tạo lại, từ trí nhớ của những chúng sanh nơi đó khiến cho cô có thể nh́n được chăng? cho dù những cảnh tượng thực sự và biến cố đó thực chất đă biến mất? Trước khi mạo muội làm sáng tỏ những điểm này, tôi đă yêu cầu cô Sriphen liên lạc với các chúng sanh chư thiên và hỏi họ xem làm sao điều này có thể diễn ra được. Đây là câu trả lời của họ. “Những cảnh quan về những biến cố trên cơi đời này như thể các biến cố đă xảy ra tại công viên Lumbini. cho dù đă biến mất hoàn toàn vào dĩ văng và không c̣n thu hồi lại được nữa, nhưng vẫn c̣n lại và tồn tại nơi các cơi thiên hà (astral world). Toàn bộ các sinh vật hay vô sinh vật đều được tái sanh do Tinh tiến (energy) mà ra. Sau khi Sắc (form- Rūpa) của chúng đă tàn rồi. Sắc đó biến đổi thành một thực tại khác đó là Tinh tiến được thanh tịnh (refined), trong đó các vật thể này vẫn tồn tại. Những Tinh tiến “hóa thạch” này, ta có thể gọi như thế, chính v́ thế mà trở thành khó quan sát hơn và như vậy cần phải có một sức mạnh tâm linh hơn, và tinh tế hơn đó là Tinh tiến thiền (meditative energy.) để có thế “tiếp xúc “với chúng được. Cũng cần lưu ư là tất cả những chúng sanh trong cơi Thiên hà không thể nh́n thấy hoặc quan sát được những cảnh tượng trong đó một cách giống nhau và ngang bằng nhau đâu. Mỗi chúng sanh ở cơi đó đều hơn kém bị giới hạn hoặc hạn chế tùy thuộc vào các tưởng riêng những pháp này. Điều này lại tùy thuộc vào mức độ trưởng thành hay phát triển siêu nhiên của từng chúng sanh. Những kẻ nào đă đạt đến tŕnh độ Thiền Vô Sắc Giới (arūpa jhāna) đang khi c̣n ở trên cơi đời này, đă vượt qua được tư tưởng về bản ngă nơi toàn hộ thọ mệnh của họ. Sau khi thân xác của họ đă tan ră, họ đạt đến được Cơi Vô Sắc Giới (arūpa visaya). Ở đó thân xác họ đă trở nên thanh tịnh hoàn hảo nhất. Được Thanh tịnh hoàn hảo đến nỗi ngay cả những người đạt đến mức độ Nhăn Thông cao nhất vẫn không thể nh́n thấy họ (nhưng xúc vẫn diễn ra thông qua liên lạc tri thức với nhau) Cũng như vậy các chúng sanh Hóa Sinh (opapātika) nơi các cơi thấp hơn không thể nh́n thấy được những chúng sanh cao hơn, tâm và sở hữu tâm của họ được thanh tịnh và tinh tế hơn. Tóm lại, bản chất môi trường nơi cơi Hóa Sinh (opapātika) rất phù hợp với những chúng sanh cư ngụ tại đó.” Lời giải thích ngắn gọn ở trên xem ra mang đậm h́nh thức cao siêu, soi rọi một chút ánh sáng nơi tâm của tôi như thể hiểu được sự thật về việc nhớ lại tiền kiếp. Sau đây là những chân lư được rút ra từ đó.
Chẳng có ǵ phải vĩnh viễn biến mất cả.
Sắc pháp th́ bao gồm có năng lực, cả hai đều có khả năng hoán chuyển lẫn nhau. Thân xác con người xuất hiện thông qua sự hiện diện của tâm. Sau khi thân xác đó tan ră, con người trở nên vô h́nh, được gọi một cách chung là chúng sanh Hóa Sinh (Opapātika). Lúc đó thân xác của ta, cho đến khi nhập được vào cơi cuộc sống thích hợp với mức trưởng thành của con người vào từng thời điểm, giống như thân xác trên thế gian này. Một khi đă gia nhập vào cơi thích hợp riêng cho từng đối tượng như đă nêu trên, thân xác con người sẽ mặc lấy một h́nh dáng và nhiều sắc thái phù hợp với cơi đó. Nếu như tạm rời khỏi cơi đó (tạm thời như trong một cuộc thăm viếng) th́ thân xác của người đó sẽ hiện nguyên h́nh con người trước kia. Điểm liên quan đến quần áo hay trang phục như đă đề cập đến ở trên cũng cần phải xem xét. Làm sao trang phục có thể đi theo với người đó? Đương nhiên họ c̣n đi song hành hay là cả bản sao của trang phục trước kia người đó đă mặc. Nhưng bằng cách nào trang phục đó lại hiện hữu được ở một chiều kích hiện thực khác? Một điểm khác nữa là đồ ăn do các chúng sanh Hóa Sinh (Opapātika) sử dụng. Nơi một số trường hợp các đồ ăn này giống hệt như những ǵ được sửa soạn nơi cơi trần thế này. Thức ăn hay hoa quả họ hàng thân thiết cúng cho người quá cố trên cơi đời này thông qua dâng của bố thí cho các tỳ khưu (charity = dāna) cho các tỳ khưu cũng được thấy xuất hiện nơi cơi của người quá cố. Chính xác như trên cơi đời này, làm sao điều này có thể xảy ra? C̣n có một trường hợp đă được ghi lại trong tập tin của chúng tôi. Điều này có liên quan đến những khảo cứu khảo cổ tại một thiền viện tên là Wat Klong, tại thị trấn Khoobua, một tỉnh miền nam Rajhuri. Ngôi chùa này được xây dựng cả ngàn năm qua. Những ǵ c̣n lại của ngôi chùa đó chỉ là những nắm đổ nát nơi cấu trúc móng mà thôi. Chúng ta không c̣n biết ǵ về thượng tầng cấu trúc của ngôi chùa này: một Pḥng Trai giới (Uposatha) hay là một tịnh xá chăng hay là một thứ ǵ khác. Thông qua khả năng thiền của Cô Sriphen, chúng ta được biết đây là nền móng của một tịnh xá (vihāra). Quang cảnh được cô nh́n thấy hoàn hảo đến từng chi tiết, đến nỗi chúng ta có thể vẽ được một bản phác họa của ngôi chùa đó và so sánh với bức h́nh mang tính nghệ thuật vào thời đó.(Trường hợp này đă được tŕnh bày tiết trong một tập sách nhỏ bằng tiếng Thái mang tựa đề Voices From Heaven. Cuốn 5)
Nghĩa Rộng Hơn Của Từ “Tinh tiến’ (Energy)
Đây là một ví dụ khẳng định pháp “không có ǵ bị biến mất và vạn vật, cả sinh vật lẫn các vật không có sự sống đều thể hiện ra bằng tinh tiến (sinh lực). Tuy nhiên, ‘tinh tiến” (sinh lực) này được khám phá và tái phát hiện như thế nào nơi các nhà khoa học hiện đại vẫn c̣n rất giới hạn và c̣n xa mới đạt đến hoàn hảo. Khoa học chỉ làm rơ được một vài khía cạnh. Nhưng vẫn chưa nhận ra, sự hiện diện và sức mạnh của tinh tiến (sinh lực) của tâm. Chính sinh lực (tinh tiến) này là bản chất hay là nguyên lư căn bản từ đó vạn vật trong vũ trụ này phát sinh ra một trong những công thức đó đă được khẳng định trong y tương sinh (paṭiccasamuppāda) (nhân quả) hay là luật duyên khởi (Law of Dependant Causation) không được quan tâm đúng mức cho dù nguyên lư này công bố một chân lư sâu xa nhất và trực tiếp liên quan đến cuộc sống mọi sinh vật. Kể cả loài người và loài vật. Thí dụ như thú vật và chúng sanh nơi cơi vô h́nh, hóa sinh (Opapātika) th́ nguyên lư này khẳng định: nơi tâm, có Rūpa (n.l. Sắc hay c̣n gọi là bốn giới) có Sắc xuất hiện th́ cũng hiện diện tâm.” Một số lời dạy của Đức Phật hỗ trợ và giải thích công thức như sau: a- Ananto Ākāso (nguyên văn, hư không là vô biên) (Ghi chú: không khí ở đây phải hiểu là không gian nhưng thường được hiểu như vậy, có thể được hiểu như là nhiều loại khí. Cũng c̣n có cả không gian bên trong một nguyên tử thuộc bất kỳ vật chất nào). b- Anantaṃ Vinñnñāṇaṃ: thức cũng vô biên (điều này đă được thảo luận trong một tác phẩm của tôi có tên là BUDDHOLOGY. Hiện đă được dịch sang Anh ngữ) c- Manopubbaṇngamā Dhammā Manoseṭṭhā Manomayā: Tâm (hay ư) là bản chất của mọi pháp (n.l. pháp ǵ là vật chất. Phi vật chất, và luật tự nhiên) Điều vượt trội hơn tất cả mọi Pháp chính là Mano (có nghĩa là tâm) toàn bộ Pháp đều chỉ là sản phẩm tâm mà thôi. d- Trong Ky-tô giáo cũng tồn tại một giáo lư giống như những trích đoạn về bản chất vật thể như sau, Thiên Chúa tạo dựng nên vũ trụ và vạn vật trong đó. Thiên Chúa hiện hữu khắp nơi.
Sống Măi Sau Khi Chết
Tôi tin là hiểu thấu đáo được những nguyên lư này sẽ khiến cho không mấy khó khăn để chấp nhận một pháp khác đó là: con người ta có thể vẫn c̣n sống ở đâu đó, sau khi đă rời khỏi (chết) cơi đời này. [2] và toàn bộ sự vật, sau khi đă tan biến khỏi cơi đời này, vẫn c̣n tồn tại trong cơi hữu tâm. Theo lời Đức Phật dạy, tâm vẫn c̣n bị Ái dục (Tanha) lấn áp th́ buộc phải trải qua một qui tŕnh tái sanh, và kết quả là một qui tŕnh tái tử liên tục. Tái sanh lại đề ra một lần sanh khác tương ứng với Sắc (rūpa) (h́nh thể hay là vật chất n.l. thân xác). điều đáng lưu ư ở đây là từ “Rūpa’ ở đây không nhất thiết phải hiểu là h́nh dạng hay là thân xác của một chúng sanh sống. Nơi vô h́nh, hóa sinh (Opapātika) cũng có thể thấy đất, cây cối, hoa quả, quần áo, nhà cửa và đường xá. Toàn bộ những thứ đó đều hàm chứa trong ư nghĩa của từ “rūpa”. | |