NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 

                                                               Nguyên tác: Supra-Mundane, Psychic Powers
                                                
 Tác giả:       Phorn Ratanasuwan
                                               
  Dịch giả:     Tỳ khưu Thiện Minh

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Thực hiện phép lạ (thần thông) Āvibhāva nghĩa là tạo ra ánh sáng từ bóng tối, và đem ra ánh sáng những ǵ đang bị dấu kín.

 

Liên quan đến phép thần thông loại này có giai thoại được kể lại rằng có một vị tỳ khưu kia, sau khi thoát khỏi Thiền Định Jhana (nghĩa là thiền bậc bốn) ngài đă quyết tâm thực hiện một phép lạ (thần thông) bằng cách tụng câu thần chú sau đây: “Mong rằng chỗ tối tăm được tràn đầy ánh sáng” và “Mong rằng những nơi bị che dấu được phơi bày ra trước ánh sáng cho nhiều người được thấy.” Sau đó mọi sự đă diễn ra y như quyết tâm của ngài trưởng lăo; ngài có thể nh́n thấy bất kỳ ai cũng như bất kỳ điều ǵ từ xa và những người ở xa cũng có thể nh́n thấy người nếu họ muốn làm như vậy.

Trưởng lăo Buddhaghosa tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đă kể lại chính Đức Phật là một ví dụ điển h́nh thực hiện phép lạ (thần thông) này như sau:

Một lần kia, có một người phụ nữ tên là Cūlasubhadda, đang sinh sống trong thành phố Sāketa đă mời Đức Phật và các chư vị tỳ khưu đi theo đến dùng một bữa tiệc tại tư gia của bà vào ngày hôm sau. Lúc đó Đức Phật đang có mặt tại Khu Rừng Kỳ Viên (Jeta), trong thành phố Sāvatthi, cách đó vào khoảng bảy yojana (khoảng 112 km.). Người ta kể lại rằng Đức Phật và khoảng năm trăm chư vị tỳ khưu đi theo ngài đă bay trên không đến thành phố Sāketa và đến lưu lại tại các pḥng Kuṭis dành riêng cho từng vị với mái h́nh chóp do ngài Thiên Chủ Vissukamma, một kỹ sư thiên cung tạo ra, đang khi các pḥng Kuṭis (chỗ ở có h́nh chóp) đang bay từ Sāvatthi đến Sāketa. Đức Phật đă thực hiện một phép lạ (thần thông) nhăn tiền khiến cho cư dân trong hai thành phố đều có thể nh́n thấy nhau, trong khi đó các căn pḥng h́nh chóp từ từ hạ xuống ngay chính trung tâm thành phố, cùng lúc đó Đức Phật cũng cho các cư dân trong thành phố nh́n thấy cơi địa ngục- phía dưới một nơi gọi là A-tỳ-địa ngục (Avīci) - Đó là cơi địa ngục tận cùng sâu thẳm. Ngài cũng cho họ thấy cơi nhàn cảnh tại một nơi gọi là Cơi Phạm Thiên. Chính Đức Phật đă cho họ nh́n thấy cùng một lúc cảnh Địa ngục và cơi thiên cung nhờ vào phép thần thông của ngài và cư dân của cả hai thành phố đều nh́n thấy.

Đây là toàn bộ những ǵ ghi lại trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga). Tuy nhiên, trong tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) c̣n đưa thêm nhiều chi tiết khác nữa, cùng với một số khác biệt nhỏ như khoảng cách giữa hai thành phố được cho là vào khoảng bảy yojana, lại được ghi lại trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada) là 120 yojana (tức vào khoảng hai ngàn cây số) thành phố gọi là Sāketa, nơi người phụ nữ Cūlasubhadda cư ngụ, lại được Pháp Cú Kinh (Dhammapada) gọi là Uggaha.

C̣n có thêm một tiết mục nhiều chi tiết hơn được t́m thấy trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada) cho rằng người phụ nữ Cūlasubhadda không tự ḿnh trực tiếp đến mời Đức Phật. Nàng cũng chẳng sai người nào đến gặp Ngài như là người được nàng ủy nhiệm cho. Thay vào đó nàng đă trèo lên ngọn tháp cao nhất trong ṭa lâu đài của nàng để tỏ ḷng tôn kính Đấng Thế Tôn bằng năm cách tỏ ḷng tôn kính (nghĩa là nàng đă hai lần phủ phục đầu gối chạm đất, hai lần lấy khuỷu tay và một lần chạm trán xuống sàn nhà) nàng đă dâng nước thơm cho ngài, cộng với hoa và nhang đồng thời có ư định trong tâm, nói rằng “Nhân tiện tôi sẽ mời Đức thế tôn, cùng với các vị tỳ khưu đi theo, đến dùng bữa sáng với tôi vào ngày hôm sau, mong rằng Đức Thế Tôn thông qua dấu hiệu từ xa của tôi thông báo đến ngài lời mời này.” Như vậy sau khi nói trong tâm như vậy nàng đă tung lên trên trời bảy bó hoa jasmine.

Đang khi nàng Subhaddā thực hiện lời mời Đức Phật trong thâm tâm như vậy, th́ Đức Thế Tôn c̣n đang thuyết pháp một bài cho thính giả trong khu Rừng jeta. Người ta kể lại rằng những cành hoa người phụ nữ Subhaddā tung lên trời đă bay tới khu Rừng Kỳ Viên (Jeta), rồi họp thành một bức Trướng kết lại bằng hoa treo lơ lửng phía trên đầu Đức Phật. Nhà Triệu Phú Anāthapiṇḍika cũng đang có mặt nghe Đức Phật thuyết pháp. Vào cuối bài giảng ông đă mời Đức Phật và các vị tỳ khưu đến dùng bữa tại nhà ông vào ngày hôm sau. Nhưng Đức Phật cho biết, “Ôi chủ gia nhân, tôi đă nhận một lời mời dùng bữa vào ngày mai rồi.” Hơi bối rối, nhà triệu phú liền thưa, “Nhưng chưa có người nào đến trước tôi để mời ngài cả, Ôi Đức Thế Tôn, thế ngài đă nhận lời mời của ai vậy?” Và sau đó Đức Phật đă kể lại cho ông nghe người phụ nữ Cūlasubhaddā đă mời ngài từ xa như thế nào và ngài đă nhận lời mời đó cũng bằng một cách như vậy.

Nhiều chi tiết khác cũng được khẳng định trong tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) như sau:

Sau khi Đức Phật đă chấp nhận lời mời của người phụ nữ Cūlasubhaddā, th́ Thiên Chủ (Sakka) là thủ lănh các vị thần, biết được tin tức đó, liền ra lệnh cho Vissukamma, là vị kỹ sư thiên cung, thực hiện ngay năm trăm chỗ ở và dâng cho Đức Thế Tôn cùng các chư vị tỳ khưu đến thành phố Uggaha vào ngày hôm sau. Ngài Vissukamma này đă thực hiện công việc được giao và đứng chờ tại cổng thành dẫn đến khu Rừng Kỳ Viên (Jeta). Rồi sau đó Đức Phật cùng với năm trăm vị tỳ khưu bậc thánh đi theo đă ngồi vào chỗ ở mái cong đó và ngay sau đó họ đă được dẫn đến thành phố Uggaha bằng cách bay trên không.

Tại Uggaha, ngài triệu phú Ugga, nh́n về phía người phụ nữ Cūlasuddhaddā đă chỉ cho ông thấy và thấy được bằng cách nào Đức Phật cùng với phép thần thông của ngài đă xuất hiện trong vinh quang và vị này hết sức là cảm kích. Ông ta đă sấp ḿnh tôn thờ Đức Thế Tôn cùng các vị tỳ khưu đi tháp tùng ngài bằng cách dâng hoa và nhiều của bố thí sau đó lại dọn cho các ngài một bữa tiệc. Đồng thời ông c̣n tổ chức một cuộc đại thí cho dân chúng kéo dài trong bảy ngày liên tiếp.

Vào lúc này ta hăy gác sang một bên khả năng hay sự xác thực của các phép lạ (thần thông) siêu phàm đó. Chúng ta có thế sắp xếp các phép lạ (thần thông) đó thành các loại như sau:

1. Phép lạ (thần thông) thu ngắn khoảng cách, làm cho những người cách nhau cả trăm cây số cũng có thể nh́n thấy nhau.

2. Phép lạ (thần thông) được nâng bổng lên trên không và di chuyển trong đó.

3. Phép lạ (thần thông) tiết lộ các nhàn cảnh và khổ cảnh, Làm cho các người trên trần gian này cũng có thể nh́n thấy.

4. Vị kiến trúc sư thiên cung Vissukamma lại có thể tạo ra được chỗ ở cho chúng sanh cư ngụ trong một thời gian nhất định.(những chỗ ở được tạo dựng lên như vậy, ngoại trừ những cỡ kích b́nh thường chỉ có thể tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi tạm thời mà thôi. Chúng không thể tồn tại vĩnh cửu được)

Ngoài những Phép lạ (thần thông) mở màn (Āvibhāva) đă bàn đến ở trên, Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) cũng đă kể lại một phép lạ (thần thông) Yamakapāṭihāriya (phép lạ (thần thông) song do chính Đức Phật thực hiện. Sau đây là một bài tường thuật được kể lại trong bản văn đó.

 

Đức Phật Đến Thăm Cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa)

 

Đức Thế Tôn, sau khi đă thực hiện phép lạ (thần thông) Yamakapāṭihāriya (phép lạ (thần thông) một người có mặt ở hai nơi cùng một lúc) để giải thoát cho 84.000 sinh linh thoát khỏi tà kiến phược, ngài liền nghĩ tới điều Chư phật trước kia đă làm sau khi Chư vị đă thực hiện được những phép lạ (thần thông) tương tự như ngài đă làm. Ngay sau đó thông qua Tuệ giác nhiệm màu ngài biết được Chư vị cũng đă đến thăm cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa). Chính v́ thế ngài đă đặt chân trái trên mặt đất c̣n chân phải đặt trên đỉnh ngọn Yugandhara. Rồi ngài tiến một bước lên phía trước, đặt chân trái xa hơn một chút lên đỉnh ngọn núi Sineru (nghĩa là ngọn Hymalaya). Chính bằng cách này Đức Phật đă đặt chân lên đến cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa). Ngài đă trải qua mùa An Cư Kiết Hạ tại đó. – Ngay trên ngai vàng của Thần Indra cai quản cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa) tọa lạc ngay trên đỉnh núi Sineru. Trong thời gian đó ngài đă thuyết pháp Tạng Vi Diệu Pháp cho một đoàn người gồm cả trăm ngàn cơi Thiên vũ trụ. Đoạn văn tiếng Pali diễn tả phần này như sau: Paṇṭḍukambalasilātale vassaṃ upagantvā sannipntitānaṃ dassasahassacakkavāḷadevatānam ādito paṭṭhāya abhidhammakathaṃ ārabhi.

Trong thời gian đi khất thực, Đức Phật đă tạo ra một thân Phật khác, có thể gọi là “h́nh bóng”Phật, giống như một thân thể cơi trời hay là một Hóa tâm thông (manomayakaya). Chính ‘h́nh bóng’ Phật này đă thực hiện công việc thuyết pháp (Dhammadesanā) một cách liên tục ngay cả lúc Đức Phật thực sự vắng mặt, như lúc ngài phải vệ sinh răng miệng với bàn chải đánh răng (tiếng Pali gọi là Nāgalatā) trước khi ngài dùng nước xúc miệng tại hồ ở độ cao trên núi gọi là Anotāta. Hiện nay vẫn c̣n t́m thấy chiếc hồ này trên dẫy Himalaya và người ta tin là hồ này có liên quan đến Đức Phật trong giai đoạn này. Sau đó ngài tiến hành đi khất thực tại những nơi có cư dân Uttarakuru sinh sống trước khi trở lại dùng bữa tại một nơi gần hồ Anotāta đă đề cập đến ở trên.

Cũng chính nơi đây Trưởng Lo Xá-lợi Phật (Sārīputta) đă đến để tỏ ḷng tôn kính Đức Phật mỗi ngày. Rồi sau đó Đức Phật đă kể lại cho ngài khoảng cách bao xa ngài (kể cả “bóng”Phật) đă thực hiện những bài thuyết pháp. Sau đó ngài quay trở lại tiếp tục thuyết pháp tại nơi ‘bóng”Phật đă bỏ đi. Qui tŕnh này diễn ra liên tục. Trong thời gian này người ta kể lại nhờ nghe Đức Phật thuyết pháp tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) mà một số lớn những vị chư thiên tổng số lên đến 800 triệu cả thảy được phước lành liễu ngộ Phật Pháp.

Vào lúc này có một đám đông đang xúm lại địa điểm là nơi Đức Phật đă thực hiện phép lạ (thần thông) hiện diện tại hai nơi. Trên một khoảng rộng độ 22 yojana. Toàn bộ họ đồng một ḷng quyết định nhất quyết không quay trở về nhà trước khi nh́n thấy được Đức Phật quay trở lại cơi trần gian này. Chính v́ mục tiêu đó họ đóng trại chung quanh vùng phụ cận. Trong suốt một thời gian toàn bộ số người đó được Cūla Anāthapiṇḍika, em trai của một người giàu có cung cấp cho đồ ăn và những vật dụng cần thiết.

 

Trưởng Lăo Mogallana Đă Tiến Vào Ḷng Đất Như Thế Nào

 

Vào lúc này đoàn người đang nóng ḷng chờ đợi được xem Đức Phật đang ở đâu. Họ đă yêu cầu Ngài Trưởng Lăo Anuruddha t́m cho họ. Trưởng Lăo đă nhập thiền ĀlokaKasiṇa có nghĩa là nhập thiền ánh sáng khiến cho ngài có khả năng nh́n thấy Đức Thế Tôn đang nhập An Cư Kiết Hạ ở đâu, đang khi ngài lưu lại trên cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa). Sau khi được Đức Phật cho biết địa điểm chính xác ngài đang lưu lại trên cơi Tāvatiaṃsa. Họ liền quay trở lại gặp Trưởng Lăo Moggallāna và yêu cầu ngài làm thế nào họ gặp được Đức Phật để tỏ ḷng tôn kính ngài. Trước hoàn cảnh như vậy, ngay trước sự hiện diện của đoàn người đông đảo, vị Trưởng Lăo lao xuống ḷng đất và nổi lên trên đỉnh ngọn núi Sineru rồi ngồi ngay dưới chân Đức Phật và tŕnh Đức Phật biết hậu quả ǵ sẽ xảy ra cho đám đông đang qui tụ lại muốn gặp được Đức Phật trước khi họ chịu quay trở về nhà.

Đức Phật liền hỏi vị trưởng lăo nói rằng, “Ôi ngài Moggallāna, thế người anh cả Xá-lợi Phật (Sāriputta) hiện đang ở đâu?” Sau khi vị trưởng lăo trả lời Xá-Lợi-Phất (Sāriputta) lúc này đang lưu lại trong thành phố Sañkassa, Đức Phật liền bảo ông. “Hăy truyền cho dân chúng những ai muốn gặp thầy hăy đến thành phố Sañkassa. Th?y sẽ có mặt tại thành phố đó vào ngày mai, nhằm ngày Trai giới (Uposatha) và là ngày Tự tứ (Mahāpavāraṇā)”

Đại Trưởng Lăo Moggallana quay trở lại cơi trần gian cùng một cách ngài đă nhập cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa). Trên đường quay trở về và ra đi cùng một cách giống nhau. Vị trưởng lăo cũng đă thực hiện phép lạ (thần thông) Āvibhāva có nghĩa là phép lạ (thần thông) mở ra, khiến cho toàn bộ những người hiện diện đều nh́n thấy ngài ra đi và trở lại như thế nào. [6] Sau khi đă quay trở lại cơi trái đất, ngài liền thông báo cho dân chúng đang nóng ḷng chờ đợi tin vui đó và cho họ biết là phải tiến hành cuộc hành tŕnh ngay sau kết thúc bữa ăn sáng. Ngài thông báo cho họ biết thành phố Sañkassa cũng không cách xa đây là bao.

 

Đức Phật Từ Cơi Tam Thập Tam Thiên (Tavatimsa) Bước Xuống Trái Đất

 

Đức Phật liền truyền cho Thiên Chủ (Sakka) vua các vị chư thiên rằng, “ Ôi Thiên Chủ, ta sẽ quay trở lại cơi trái đất vào ngày mai.” Nghe thấy vậy Thiên Chủ (Sakka) liền lệnh cho Vissukamma, là vị kiến trúc thiên cung mà rằng, “ Đức Thế Tôn sẽ giáng lâm vào ngày mai, xin ngài hăy tạo ba cây thang, một bằng vàng, một bằng bạc, và cây c̣n lại bằng đă quư” Và như vậy là vị kiến trúc thiên cung cứ y lệnh thực hiện.

Buổi sáng ngày hôm sau Đức Phật đứng trên đỉnh núi Sineru, Đưa mắt nh́n về hướng đông trái đất. Ngay lúc đó hàng ngàn hàng vạn vũ trụ tự mở ra, như thể toàn vũ trụ trở thành một kích cỡ giống nhau. Điều này diễn ra ba lần như vậy mỗi khi Đức Thế Tôn hướng mắt nh́n về ba hướng c̣n lại, ở mỗi hướng toàn thể những vũ trụ đều gặp gỡ lẫn nhau khiến cho Đức Phật có dịp chiêm ngưỡng tất cả những ǵ ngài muốn. Nh́n xuống trái đất trở lại, ngài lại nh́n thấy các cảnh khổ là nơi tận cùng địa ngục. Khi hướng mắt nh́n lên ngài nh́n thấy cơi Akaniṭṭha, là cơi cao nhất nơi nhàn cảnh vô tận. Chính v́ thế ngày hôm đó được đặt tên là “ngày khai mở toàn vũ trụ” Trong ngày đó các cư dân dưới đất và thần thánh trên trời có thể tận mắt nh́n ngắm nhau. Hơn thế nữa như vậy con người không phải nh́n lên ngắm những cư dân thiên quốc, cũng như vậy các cư dân thiên cung cũng không phải nh́n xuống trần gian để t́m kiếm anh em bà con dưới đó. Cả hai đều tỏ ra rất vui mừng trong suốt thời gian đó. [7]

Rồi Đức Phật bước xuống cây thang bằng chuỗi đá quí ở giữa. Trong khi đó các cư dân thiên đ́nh thuộc sáu cơi Dục giới (Kāmāvacarabhūmi) đi theo ngài qua dây thang bằng vàng, ở phía bên phải, và các cư dân Phạm Thiên (Brahma) thuộc cơi Suddhāvāsa và cơi Đại Phạm Thiên th́ theo dây thang bằng bạc ở phía trái. Thiên Chủ (Sakka), chủ tướng các chư dân thiên quốc, mang theo bát khất thực và y cà sa cho Đức Phật, trong khi đó Đại Phạm Thiên mang một chiếc lọng màu trắng với luồng sáng phát ra xa tới ba Yojana. Cùng lúc đó Thiên Chủ Suyama lại mang một chiếc quạt c̣n Pañcasikha, là người phụ trách ca đoàn thiên quốc lại mang theo một chiếc đàn Hạc màu vàng trông giống như một trái cây Bael chín dài khoảng ba Gavuta, lúc nào cũng luôn miệng hát những lời ca ngợi Đức Phật. Người ta kể lại rằng chẳng có ai chiêm ngưỡng Đức Phật ngày hôm đó lại không có ḷng ước ao trở thành một Đức Phật.

Đức Phật đă thực hiện phép lạ (thần thông) hiện h́nh ở hai nơi như vậy. Biến cố này được ghi lại bằng tiếng Pali như sau: Idamettha bhagavā āvibhāvapaṭihāriyam akāsi. Nhờ Phép lạ (thần thông) Pāṭihāriya hay phép lạ (thần thông) ngài thực hiện khi ĺa khỏi cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa) trở lại cơi trần. Những người chờ đón ngài tại thành phố Sañkassa đều có thế tận mắt chứng kiến tất cả những quang cảnh kỳ diệu đó. Những cư dân trên cơi đời này có thể chiêm ngưỡng người láng giềng nơi cơi thiên thai của ḿnh và ngược lại.

Bài tường thuật trên đây trích từ bản văn được gọi là Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), trong khi đó trong tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) c̣n có nhiều chi tiết tỷ mỷ hơn được mô tả rất kỹ. Tuy nhiên trong Kinh Phật chúng ta có thể tiếp cận được, lại chỉ đề cập đến một số ít chi tiết trong tác phẩm Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddakanikāya) (tập thứ 31. trang 183). Nhưng lại chỉ tường thuật về biến cố Phép lạ (thần thông) Đức Phật hiện ở hai nơi cùng một lúc (Twin Miracle) và không đả động ǵ đến chi tiết Đức Phật An Cư Kiết Hạ nơi cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa) như thế nào, đồng thời không đả động ǵ đến biến cố ngài từ cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa) giáng lâm ra sao. Những đoạn mô tả thêm sau này xác thực đến mức độ nào c̣n phải để cho các vị học giả tra cứu và giải thích cẩn thận. Mục tiêu của tác giả như đă được tŕnh bầy ở trên, chỉ nhằm tường tŕnh và tường tŕnh một cách trung thực điều ǵ đă được khám phá theo nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, cách tốt nhất vào lúc này là nên tạm hơan đưa ra bất kỳ phê phán nào cho đến khi có nhiều nghiên cứu sâu rộng và sâu xa hơn được thực hiện.

Đối với những ai muốn t́m hiểu thêm về những ǵ được mô tả trong tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) chúng tôi cho ghi lại những đoạn dưới đây như sau:

“Đang khi thực hiện phép lạ (thần thông) hiện diện ở hai nơi cùng một lúc, Đức Phật đă suy nghĩ “Chư phật trước ngài đă và đang thực hiện phép trên đều có nhập An Cư Kiết Hạ hay không?’ sau này ngài biết được tất cả các vị đó đều có qua An Cư Kiết Hạ tại cơi thiên đường Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa) và đă thuyết pháp Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) tại đó cho các bà mẹ của các vị đó.

Chính v́ vậy đang khi thực hiện Phép lạ (thần thông) này, Đức Phật đă đặt chân phải của ngài lên đỉnh núi Yugandhara và chân c̣n lại ngài đặt lên một đỉnh núi Sineru. Chỉ có ba bước chân, ngài đă vượt qua một khoảng cách dài khoảng sáu trăm tám mươi ngàn Yojana. Điều này cho thấy khoảng cách giữa hai chân của ngài vẫn b́nh thường là điều không thích hợp, thế nên việc mô tả vẫn được tiếp tục. Trong vấn đề này bất kỳ ai suy nghĩ Đức Phật đă thực hiện một bước rất dài để vượt qua một khoảng cách to lớn đến như vậy th́ đó chính là các ngọn núi đó đă di chuyển lại gần nhau để cho Ngài có thể bước qua sau đó chúng lại lui trở về vị trí cũ.

Lúc này Thiên Chủ (Sakka) vua các vị thần nh́n thấy Đức Phật th́ tự nhủ trong ḷng, “Đức Thế tôn sẽ An Cư Kiết Hạ giữa ngai bằng đá sẽ được trải thảm lông màu vàng (Paṇḍukambala Silā sana). Điều đó sẽ mang lại lợi ích lớn cho các cư dân thiên cung. Tuy nhiên, trong thời gian ngài lưu lại trên đó, chẳng có chư thần nào dám đụng đến ngai đá này (xuất phát từ ḷng kính sợ Đức Phật). Vào lúc này, ngai này dài sáu mươi Yojana, rọng năm mươi Yajona và dài mười lăm Yojana và chỉ có ḿnh Đức Thế Tôn ngự trên đó, toàn bộ những chỗ c̣n lại chẳng có ai dám đến cả.

Đức Phật đọc biết được suy nghĩ của Thiên Chủ thông qua tha tâm thông, ngài liền ném y tăng ǵa lê của ngài (Sanghāṭi) lên bệ đá, y phủ kín một phần khá rộng. Thấy cử chỉ đó Thiên Chủ (Sakka) tỏ vẻ hài ḷng nh́n thấy vùng y tăng ǵa lê phủ kín. Đọc được ư nghĩ trong tâm Thiên Chủ (Sakka) Đức Phật thu nhỏ chỗ ngài ngồi lại chỉ bằng y cà sa của ngài phủ kín. Rồi ngài ngồi tại đó theo kiểu một vị tỳ khưu mặc y cà sa rách ngồi trên một bệ nhỏ ngài đă thu gọn lại.

Theo tập Chú giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) đang khi Đức Phật nhập cơi Tam Thập Tam Thiên (Tavatimsa) đám đông người tụ tập lại trên cơi trần gian không thể nh́n thấy ngài đi đâu. H́nh như mặt trời và mặt trăng đều biến mất khỏi vùng chân trời, chính v́ thế họ than văn nói rằng,

“Có phải đức Thế Tôn đang ngự trên núi Cittakuta hay trên núi Kailasa hay trên Yugandhara? Chúng tôi không nh́n thấy ngài, Đấng Giác Giả đâu cả, ngài là đấng tối cao trên trần gian này, là đấng vượt hơn hẳn mọi chúng sanh.”

Một số người có mặt ở đó lại than văn, nói rằng,

“Đức Thế Tôn, đấng khôn ngoan nhất thiên hạ đang hưởng cảnh tĩnh mịch, sẽ không c̣n quay lại cơi đời này nữa. Chúng ta chẳng c̣n nh́n thấy Đấng Giác Giả bao giờ nữa. Ngài là Đấng Tối Cao trên trần gian này, là đấng vượt hơn hẳn mọi chúng sanh.”

Không c̣n nh́n thấy Đức Phật, dân chúng liền hỏi Trưởng lăo Moggallana, nói rằng, “Đức Phật hiện giờ đang ở đâu, thưa ngài?” và thế là Trưởng lăo Moggallana lại hỏi ngài Anuruddha để trả lời câu hỏi này, và câu trả lời của ngài đă được kể lại ở trên.

 


[6] Đoạn trên được viết bằng tiếng Pali như sau: Gamanagamanakaleva yatha nam manussa passanti evam adhitthasi idam tavattha mahamoggallanatihero avibhavapatihariyam akasi.

[7] Các đoạn Pali sau đây: Taṃ divasaṃ kira lokavivaraṇaṃ nāma ahosi, manussāpi deve passanti devāpi manusse. Tattha neva manussā udhaṃ olokenti na devā adho olokenti sammukhā va aññamaññaṃ passanti.