NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 

                                                               Nguyên tác: Supra-Mundane, Psychic Powers
                                                
 
Tác giả:       Phorn Ratanasuwan
                                               
 
Dịch giả:     Tỳ khưu Thiện Minh

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THẦN TÚC THÔNG (Iddhividhi)

 

So với chủ đề ba chương trước, một số ví dụ điển h́nh về sức mạnh kỳ diệu trong chương bốn sau đây xem ra có vẻ hơi kỳ quặc và khó tin khiến một số người đương thời hiện đại khó có thể chấp nhận được, họ đặt nền tảng suy luận và hiểu biết của ḿnh trên khoa học thực nghiệm. Thừa nhận quan điểm này, mục tiêu của tác giả chỉ là thực hiện một khảo sát, ở một chừng mực những ǵ có thể đọc thấy trong các bản văn Kinh Phật, gồm những ǵ được ghi lại trong đó.Thực hiện điều này, Tác giả chỉ muốn hiểu được thái độ và quan điểm của những người dưới thời Đức Phật. Tuy nhiên, đang khi điều này c̣n tùy ở sự tự do lựa chọn của mỗi người, dựa trên khả năng phân tích để loại bỏ một số điều họ cho là hoang tưởng hơn là hiện thực. Chắc hẳn nếu ta gạt bỏ toàn bộ những sự việc đó sang một bên sẽ là điều không thích hợp và phi Phật giáo, mà không ngại đến óc phán đoán sáng suốt, để kết luận là toàn bộ những sự kiện đó chỉ nhằm quyến rũ để lừa bịp quảng đại quần chúng.

Nh́n chung, niềm tin của con người, kể cả mối hoài nghi của họ nữa lẽ đương nhiên chỉ là Các Hành (Sañkhāra) có nghĩa là những điều đó luôn tùy thuộc vào hoàn cảnh và môi trường chi phối và luôn lệ thuộc vào thay đổi và những điều chỉnh theo thời gian. Những điều này c̣n tùy thuộc rất nhiều vào nền giáo dục, việc nghiên cứu và những kinh nghiệm trong cuộc sống của người đó. Những ǵ ngày hôm nay được chấp nhận, có thể sẽ bị loại bỏ một phần hay toàn bộ trong tương lai và ngược laị. Chính v́ thế danh sách và những ví dụ điển h́nh sau đây ít nhất sẽ được dùng để nghiên cứu sâu rộng và kỹ lưỡng, một ghi nhận trung thực về những bản văn ghi lại trong Kinh Phật qua nhiều thời đại. Như đă đề cập đến ở trên một số người rất quan tâm muốn biết về thái độ và quan điểm của những người thời Đức Phật có liên quan đến góc độ Phật giáo xuất hiện giống như một “tài năng chưa được khám phá” đối với những người tôn thờ khoa học hiện nay. Cho dù có gặp được “Hoàng Tử Đẹp Trai” làm tỉnh dậy nàng” Công Chúa Ngủ Mê” (nghĩa là. Ella) từ những đống tro tàn c̣n lại đó, điều c̣n phải được cứu xét, có thể trong suốt cuộc sống chúng ta trên cơi đời này, hay c̣n kéo dài tới một thời điểm nào đó trong kiếp mai hậu.

Những ai đă đọc bản dịch tác phẩm SAI BABA sang tiếng Thái, mô tả rất nhiều Phép lạ (thần thông) cũng như những khả năng kỳ diệu của Ngài, chắc hẳn đều muốn biết nơi Phật giáo có rất nhiều phép lạ (thần thông) do chính Đức Phật và các đồ đệ của người thực hiện và những bài tường thuật đó chính xác và trung thực đến mức độ nào. Một câu hỏi khác cũng được đưa ra đó là: đă có lời giải thích chính thức nào khả dĩ có thể chấp nhận được hay chưa và những lư do và khả năng những sức mạnh siêu nhiên đó đến mức độ nào.

Tôi đă cân nhắc và suy tư rất nhiều đến những câu hỏi trên trong suốt một thời gian dài. Ngay cả trước khi biên soạn các bài tiểu luận về Nhớ Lại Tiền Kiếp (Recollection of former lives), Phép Nhăn Thông (Clairvoyance) và Hóa tâm thông (Manomayakaya). Khó khăn nằm ở chỗ những điều thần kỳ siêu nhiên này rất hiếm thấy xuất hiện trong đời thường và những điển h́nh thuộc loại này khó thấy bất kỳ người đương thời nào thực hiện nổi. Những điều tôi đang cử ra đây chỉ thấy đề cập đến trong Kinh Phật, mà đa số những người thuộc thời đại chúng ta thấy khó có thể chấp nhận được. Cho đến khi tôi đă nghiên cứu kỹ lưỡng và chính mắt được chứng kiến hiện tượng “Ngài Sri Satya Sai Baba” đă thực hiện, với thâm tín rằng đây chẳng phải là những tṛ bịp bợm của nhà ảo thuật, lúc đó tôi mới đi đến kết luận là toàn bộ những sự việc Ngài đă làm chỉ nhằm khẳng định khả năng “phi thường” của Đức Phật. Đă có quá nhiều sách vở mô tả và b́nh luận những kỳ công Ngài Sai Baba đă thực hiện, toàn bộ những pho sách đó đều do các học giả có cá tính liêm khiết cao độ, thoạt đầu họ xuất hiện chỉ nhằm chê trách Đức Phật và lật tẩy tính cách phỉnh gạt của Ngài. Cuối cùng họ sẵn ḷng chấp nhận ít nhất vào lúc này họ không thể khẳng định được việc phô bầy những khả năng đó đều là những tṛ lừa bịp của ảo thuật gia. Rất nhiều người đă đoan chắc hoàn toàn và chấp nhận ngài là hiện thân của một vị chư thiên nào đó.

Trước tiên tôi cần lưu ư một chút ở đây như là lời chú cuối trang. Điều này liên quan đến việc dùng từ IDDHIVIDHI. Từ chính xác phải là IDDHIVIDHA, ngụ ư muốn nói đến nhiều hay một lượng những Thần Túc Thông đa dạng (manomayiđhi). Trong khi đó từ IDDHIVIDHI thực sự chỉ có nghĩa là “cách thức và phương tiện để thực hiện những thần túc thông đó. . .” Tuy nhiên từ IDDHIVIDHI đă được sử dụng hàng nửa thế kỷ qua tại Thái Lan. với những độc giả người Thái đă quen với ư nghĩa của từ này và không c̣n là một từ khiến họ hiểu lầm. Tác giả lựa chọn dùng từ này (có nghĩa là từ thứ hai) mượn ư nghĩa của từ thứ nhất.

 

Các Phép lạ (thần thông) Nơi Phật giáo

 

Các phép lạ (thần thông) do phép thần thông được nói đến ở rất nhiều nơi trong Kinh Phật, hầu như toàn bộ 45 tập Kinh Phật viết bằng tiếng Thái (dịch từ tiếng Pali). Những phép lạ (thần thông) này gồm cả những việc do chính Đức Phật thực hiện và những phép lạ (thần thông) do các đồ đệ bậc thánh A-la-hán của Ngài nữa. Rất có thể nguồn rơ ràng nhất được trích từ nguồn Sa môn quả Kinh (Sāmaññaphalasutta), tôi thường trích nhiều đoạn ghi trong ba chương trước trong tác phẩm này. Tiếp theo đây là một đoạn liên quan đến việc thực hiện những phép lạ (thần thông) do phép thần thông đó:

“. . . . . Có một vị tỳ khưu đă nhập thiền định vững vàng (có nghĩa là thiền Jhana bậc bốn) do đó ngài đă được thanh tịnh và trở nên sinh động, lột bỏ khỏi những ảnh hưởng phiền năo đang ŕnh rập, trở thành kiên định, linh hoạt (nghĩa là nhuần nhuyễn và hoàn toàn tuân thủ theo ư muốn.) và không bị lung lạc, hướng tới thực hiện được nhiều sức mạnh thần thông. Chư vị đó có thể đạt đến được những công việc lạ lùng như sau:

1. Từ một người biến thành nhiều người hay từ một đồ ít đồ vật tạo ra nhiều đồ vật khác nhau.

2. Ngược lại, biến nhiều người thành một người duy nhất hay biến nhiều đồ vật thành một vật duy nhất.

3. Thực hiện (điều được gọi là) Āvibhāva nghĩa là tạo ra ánh sáng nơi bóng tối, mở ra được điều ǵ đang bị che khuất, đang bị giấu diếm, và chôn vùi ở nơi xa xôi không thể nh́n thấy bằng mắt thường được. Chư vị tỳ kheo có thể đem ra ánh sáng được những điều đó.

4. Ngược lại, thực hiện cái gọi là Tirobhāva có nghĩa là tạo bóng tối tại những nơi đang có ánh sáng, tạo ra vật ngụy trang giữa những nơi trống trơn, có thể đi xuyên qua những nơi không thể vượt qua nổi. Dấu không cho nh́n thấy những vật cận kề ngay trước mắt và đă được nh́n thấy.

5. Đi xuyên qua bức tường, hàng rào và cả những ngọn núi như thể những chướng ngại vật đó chỉ là không khí mà thôi hay di chuyển được trên không.

6. Chui xuống được ḷng đất và lại từ ḷng đất trồi lên một cách dễ dàng, giống như nhẩy xuống nước và rồi lại trồi lên khỏi mặt nước.

7. Đi trên mặt nước mà không bị ch́m xuống giống như bước đi trên mặt đất vững chắc vậy.

8. Bay trong không khí giống như loài chim vậy hay ngồi lơ lửng trên không trong nhiều tư thế khác nhau, tất cả đều được thực hiện trên không.

9. Bằng chính bàn tay của ḿnh có thể đụng tới hay sờ mó được mặt trời và mặt trăng.

10. Bằng thân xác phàm trần của ḿnh lại đột nhập được vào cơi Phạm Thiên giống như với thể xác đă được thần thông hóa.

Tuy nhiên, những điều nêu trên không được dịch theo nghĩa đen và từng chữ một từ đoạn văn tiếng Pali nguyên thủy. Điều này chỉ nhằm tạo thuận tiện cho việc t́m hiểu đối với những độc giả chưa quen với văn phong và các thành ngữ Pali. Để tiện việc so sánh cho những ai muốn t́m hiểu trực tiếp những đoạn văn Pali. Tôi xin trích đoạn văn bằng tiếng Pali như sau:

So evam samahite citte parisudddhe pariyodate anañgane vigatūpakkilese mudubute kammaniye ṭhite anañjappatte iddhividhāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti. So anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti.

1. Ekopi hutvā bahudhā hoti;

2. Bahudhāpi hutvā eko hoti;

3. Āvibhāvaṃ (karoti)

4. Tirobhavaṃ (Karoti)

5. Tirokuddhaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ āsajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse;

6. Paṭhaviyāpi ummujjanimujaṃ karoti seyyāthapi udake;

7. Udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi paṭhaviyaṃ;

8. Ākāsepi pallañkena kamati seyyathāpi pakkhīsakuṇo.

9. Imepi candimasuriye evaṃ mahiddhike evaṃ mahānubhāve pāṇinā parimasati parimajjati;

10. Yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti.

(Trích trong Sīlakkhadhavagga thuộc Trường Bộ Kinh 9/130)

Những trích đoạn trên nhằm giúp xác định với quí vị độc giả một sự thật, hay đúng hơn là một chân lư, về những điều được cảm nhận cho là không thể thực hiện nổi và như vậy không thể tin được. Thực tế, những trích đoạn trên đây là chính những ǵ Đức Phật đă giảng dạy hứa hẹn đem lại những kết quả có thể đạt đến được nhờ có tâm được thanh tịnh đạt đến được mức cao siêu siêu phàm. Yêu cầu tối thiểu phải đạt đến là Thiền Bậc Bốn (fourth jhana) và một điều không thể thiếu được và kèm theo với năm loại thuần thục (vasī) (hay là Fluency) trong việc quyết định, tự rút lui vào nội tâm, tự xuất hiện, quyết đoán và hành thiền. Năm điều này đă được giải thích trong cuốn sách tôi đă biên soạn có tên là ĀNĀPĀNASSATI SAMĀDHI (Nhập thiền dựa trên Nhập Tức Xuất Tức Niệm, hay là Niệm Hơi Thở) trang . . . (bản dịch tiếng Anh)

Một điều đáng lưu ư đă được đề cập đến trong Kinh Phật đó là sự kiện tu luyện hành thiền chỉ nhằm đạt đến được Abhinna (nghĩa là sức mạnh thần thông) bậc cao hơn. Sức mạnh này không thể hoàn tất được nội trong cuộc sống hiện tại, đặc biệt là đối với những người chỉ mới khởi sự tu luyện trong cuộc sống hiện tại. Lư do là v́ tuổi thọ tối đa của một con người không đủ để đạt được một sự phát triển chính xác lâu dài như vậy. Nói cách khác, một con người có những tiềm năng như vậy phải thuộc dạng bẩm sinh chứ không phải là chứng đắc được. V́ thế cho nên những ai đă đạt được những khả năng lạ thường đó vẫn phải tích lũy những điều căn bản để có thể đạt đến thiền chứng đó trong nhiều cuộc sống trong quá khứ. Một số người đă đạt đến thành công đó trong một số thời điểm nội trong một cuộc sống trước kia của họ. Chính v́ thế họ tự động lao vào tập luyện giống như vịt lao vào vùng nước vậy.

Trước khi bàn đến lư do tại sao thực hiện được những sức mạnh thần thông đó lại chỉ là một khả năng thay v́ là một chân lư, ta cần phải liệt kê ra đây những thí dụ trích từ Kinh Phật chứng tỏ ai là người đă có thể làm được như vậy ngay trên cơi đời này và những ǵ đă được ghi lại về những việc họ đă thực hiện được trên cơi đời.

 

Ví dụ đầu tiên: Ven. Cūlapanthaka

 

Trường hợp Trưởng lăo Cūlapanthaka, ngài đă biến thành rất nhiều bản sao chính bản thân ngài và rồi lại hủy toàn bộ những bản sao đó, c̣n lại một ḿnh ngài mà thôi.

Trưởng lăo Cūlapanthaka có một người anh trai tên là Mahāpanthaka, Cả hai anh em đều là cháu ruột của một nhà triệu phú sinh sống tại thành phố Rajagaha. Người anh, là Mahapanthaka, đă nhận Thọ Đại Giới làm tỳ khưu lần đầu tiên và chẳng bao lâu sau đă đạt đến bậc A-la-hán, đồng thời cũng đạt được bốn bậc Vô Ngại Giải Đạo (paṭisambhida). Một thời gian sau Ngài đă giới thiệu người em của ḿnh, là Cūlapanthaka, để cũng được nhậnThọ Đại Giới. Nhưng người em trai xem ra quá chậm chạp và thiếu thông minh v́ sau khi người em được bảo cho biết phải học thuộc ḷng một đoạn kệ ca ngợi những công đức của Đức Phật chỉ có bốn câu, nhưng người em đă không tài nào nhớ được ngay cả sau một thời gian kéo dài đến bốn tháng sau. Đoạn kệ đó như sau:

“Padumaṃ yathā kokanudaṃ sugandhaṃ
Pāto siyā phullamavītagandhaṃ
Añgīrasaṃ passa virocamānaṃ
Tapantamādiccamivantlikkhe.”

Tạm dịch là: Hăy nh́n lên đức Añgirasa (tức là Đức Phật) ngài trông giống như một đóa hoa sen Kokanuda (tức là hoa sen màu đỏ) với hương thơm ngọt ngào tỏa lan đang nở rộ vào buổi sáng. Luôn luôn tỏa ra mùi hương thơm say mê ḷng người. Giống như mặt trời chiếu những tia nắng chói chang khắp cả một vùng trời bao la.

Nhận thấy người em của ḿnh quá đần độn, vị trưởng lăo nói với em. “Này Cūlapanthaka, chú chẳng c̣n hy vọng ǵ được ở lại trong hàng ngũ Đức Phật nữa. Ngay cả sau bốn tháng mà chú vẫn không thể thuộc nổi bốn câu kệ, th́ làm sao chú có thể chu toàn được những bổn phận tỳ khưu của chú được? Mong rằng chú hăy rời khỏi nơi đây và hoàn tục đi theo con đường của chú cho xong.” Rồi ông ra lệnh trục xuất người em chậm tiến đó ra khỏi thiền viện

Nhưng chàng trai chậm tiến đó lại rất tha thiết yêu mến cuộc sống phạm hạnh. Cậu ta chẳng bao giờ muốn có ư định từ bỏ bậc tỳ khưu cả. Vào thời điểm đó Trưởng lăo Mahāpanthaka đang chủ tŕ việc phát chẩn cứu tế cho dân chúng, ngài đang trông coi việc phân phát thực phẩm và nhân danh các tỳ khưu trong chùa mời những người dùng bữa trong thiền viện. Vào đúng ngày đó có một vị lương y tên là Jīvaka Komārabhacca, đến gặp trưởng lăo và đem đến cho ngài rất nhiều thuốc thơm và hoa để dâng kính Tam Bảo và ông đă nghe Đức Phật thuyết pháp tại Cánh Rừng Xoài. Vị lương y đă hỏi về số lượng tỳ khưu hiện trụ tŕ tại khu rừng này. Vị trưởng lăo liền trả lời là có khoảng năm trăm vị. Vị lương y liền lên tiếng muốn mời tất cả các tỳ khưu, cùng với Đức Phật dẫn đầu, đến nhà ông tham dự bữa tiệc vào ngày hôm sau.

Nhưng vị trưởng lăo lại cho biết, trong thiền viện c̣n có một tỳ khưu nữa, ngài muốn ám chỉ người em ruột của ngài, là người rất chậm hiểu, không hy vọng ǵ được Đức Phật chiếu cố! Vị Lương y liền lên tiếng, “Tôi sẽ cho mời toàn bộ các vị tỳ khưu, chỉ trừ vị đó thôi.”

Tỳ khưu Cūlapanthaka vẫn đang ngồi gần đó đang lúc người anh đề cập đến tên ḿnh và ông đă biết anh ḿnh đă loại ḿnh ra khỏi danh sách những người được mời đi dự tiệc. Nghe thấy vậy, ông rất buồn, v́ biết rằng là anh ḿnh lại “loại trừ” ḿnh, rồi đi đến kết luận là mối t́nh huynh đệ ruột thịt đă đi đến chỗ kết thúc. Cūlapanthaka nghĩ thật chỉ uổng công theo đuổi làm tỳ khưu mà thôi, và tốt hơn là trở thành một cận sự nam và phân phát của bố thí rồi lập công đức cách này cách khác theo yêu cầu một người cận sự nam th́ c̣n hơn. Buổi sáng ngày hôm sau người em đă rời khỏi thiền viện rất sớm, với ư định không theo đuổi cuộc sống độc thân nữa và trở thành một đạo hữu b́nh thường.

Đức Phật đă nh́n thấy ông ra đi, Bằng Phép Nhăn Thông ngài đă quan sát thấy ai xuất hiện trước mắt ngài và cần đến ngài trợ giúp vào ngày hôm đó và ngài c̣n biết được cả nơi chốn và người đó đang gặp điều ǵ trục trặc. Chính v́ thế ngài liền thực hiện một cuộc hành thiền đi bộ tiến gần đến chiếc cổng Cūlapanthaka sẽ đi ngang qua. Nh́n thấy Đức Phật, Cūlapanthaka tiến lại gần Ngài và tỏ ḷng tôn kính. Rồi sau đó Đức Phật liền hỏi ông. Nói rằng “Con đang đi đâu vào giờ này thế. Cūlapanthaka?”

“ Ôi! Tâu Đức Thế Tôn, con đă bị vị tỳ khưu là chính anh trai của ḿnh “loại trừ” ra khỏi thiền viện, chính v́ vậy mà con phải ĺa khỏi tăng đoàn và trở thành một cận sự Nam”

Đức Phật nói. “Ôi Cūlapanthaka, con đă thọ Cụ Túc Giới với thầy rồi mà. Tại sao khi đă bị anh ruột “từ khước” con không đến gặp thầy? Ôi Cūlapanthaka trở thành cận sự Nam nào có ích lợi ǵ đâu nào? Con sẽ được chấp nhận vào cùng đoàn với thầy.”

Nói xong, Đức Thiện Thệ lấy tay đánh nhẹ lên đầu Cūlapanthaka, rồi dẫn ông đến cửa trước hương pḥng ở của ngài (Gandhakuti), và nhờ phép thần thông ngài tạo một miếng vải trắng cực kỳ và đưa cho Culapanthaka, bảo rằng, “Hăy ngồi thiền quay mặt về hướng đông và lấy miếng vải này đập nhiều lần lặp đi lặp lại lên người đồng thời tụng đoạn Kinh sau, “Rajoharaṇaṃ, Rajoharaṇaṃ”(quét sạch bụi trần)”

Ngay sau đó Đức Phật liền rời khỏi ông và cùng với các tỳ khưu đi theo ngài đến nhà vị lương y Jīvaka theo lời mời của ông, Cūlapanthaka ngồi thiền tại đó và khi nh́n thấy mặt trời mọc, Ông liền lấy miếng vải phủi lên người ḿnh nhiều lần liên tiếp và tụng rằng “Rajoharraṇaṃ, Rajoharraṇaṃ.” Chẳng bao lâu sau miếng vải lấm bẩn hết, bụi bám đem ng̣m và mồ hôi ở tay ông toát ra. Điều này đă khiến ông hiểu ra một pháp là, cho dù tấm vải rất trắng tinh; mà hiện đă trở nên bẩn thỉu v́ bụi bậm và do ghét trong người ông toát ra. Culapanthaka suy nghĩ, “Chao ôi, các hành luôn biến đổi biết bao nhiêu” Với ư tưởng và thực chứng(Abhisamaya) này, Cūlapanthaka tiếp tục nhập tuệ giác sâu hơn nữa, đào bới sâu hơn vào toàn thể bản chất mọi hành trong vũ trụ – bản chất hay thay đổi của chúng, ḍng tuôn chảy hay độ lỏng của các hành đó và đồng thời là bản chất phi thực thể của các hành này.

Lúc đó Đức Phật đang lưu lại tại nhà vị lương y Jīvaka. Nhờ Phép Nhăn Thông Ngài nhận ra thực chứng pháp bước một của Cūlapanthaka, Ngài phát chiếu ra một luồng sáng, một luồng sáng rực rỡ trước mặt Cūlapanthaka, khiến Cūlapanthaka thấy Đức Phật đang xuất hiện ngay trước mặt ông, ra vẻ như Ngài đang ngồi thiền ngay truớc mặt Cūlapanthaka. Ngay lúc ấy Đức Phật lên tiếng “Ôi Cūlapanthaka, xin đừng nghĩ là trong thân xác con có bụi bậm bẩn thỉu đă làm cho tấm vải nhơ bẩn và bụi bậm. Ngay trong tâm của con vẫn c̣n một lượng bụi bẩn tham dục, sân hận, và si mê tồn tại. Hăy quét sạch ra khỏi tâm của con đi.” Nói đoạn Đức Phật Ngài thốt lên những kệ sau đây:

“Rāgo rajo. na ca pana reṇu vuccati;
Rāgassetaṇ adhivacanaṃ rajoti;
Etam rajaṃ vippajahitva bhikkhavo
Viharanti te vigatarajassa sāsane”

Doso rajo, na ca pana reṇu vuccati;
Dosassetaṃ odhivacanaṃ rajoti;
Etam rajaṃ vippajahitva bhikkhavo
Viharanti te vigatarajassa sāsane

Mohso rajna ca pana reṇu vuccati;
Mohassetaṃ adhivacanaṃ rajoti;
Etaṃ rajaṃ vippajahitva bhikkhavo
Viharanti te vigatarajassa sāsane

Chính tham dục là bụi bẩn; [3] chẳng phải những hạt bụi nhỏ rác rến đâu (thường được gọi như vậy). Từ “Bụi Bậm” có nghĩa là “Tham Dục” Một tỳ khưu đă loại bỏ luôn được tham dục, th́ xứng được lưu lại trong tôn giáo của Đức Phật v́ chính Ngài cũng đă loại bỏ luôn được thứ tham dục đó.”

(đoạn kệ thứ hai và đoạn thứ ba. các từ “sân hận” và “si mê” được thay vào chữ “tham dục” ư nghĩa c̣n lại giống câu đầu tiên ở trên)

Sau khi Đức Phật thốt lên những kệ trên th́ tỳ khưu Cūulapanthaka đạt đến bậc A-la-hán, đồng thời với Tứ Đạt Thông , Kinh Phật và toàn bộ Tam Tạng Kinh có nghĩa là ba bộ Kinh Phật. Điều này c̣n cho thấy ngay ở trên đời này, ngài tỳ khưu Cūlapanthaka không cần phải học Kinh Phật nữa. Tuệ giác đến với ngài một cách hết sức tự nhiên ngay vào lúc ngài đạt đến được Tuệ phân tích

 

Những Chi Tiết Thiếu Nhất Quán

 

Tuy nhiên, có sự thiếu nhất quán nơi một số chi tiết trong cả hai nguồn Kinh Phật sau đây. Bài tường thuật vừa nêu trên được trích dịch từ tác phẩm Dhammapadạtthakathā đề cập đến chuyện kể về tỳ khưu Cūlapanthaka. Trong một nguồn khác, theo tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đoạn hai, trang 220. Kể lại rằng sau khi Cūlapanthaka đă bị chính người anh ruột của ḿnh “khai trừ” khỏi thiền viện, Cūlapanthaka cho rằng ḿnh chẳng c̣n hy vọng ǵ tham gia tổ chức tôn giáo của Đức Phật. Ông rất buồn rầu và đứng khóc ṛng ngay ngoài cổng thiền viện. Bằng Phép Nhăn Thông Đức Phật đă đến gặp ông, hỏi xem tại sao ông lại khóc ṛng như vậy. Sau khi được kể lại lư do tại sao ông lại than văn thảm thiết đến như vậy, Đức Phật đă an ủi ông, nói rằng, “Chưa bao giờ có người nào được gọi là đồ vô vọng chỉ v́ không thể nhớ được một bài kệ. Chính v́ thế không nên than văn buồn phiền làm chi.” Nói đoạn, ngài dẫn Cūlapanthaka đến Khu Rừng Xoài và qua phép thần thông, Đức Phật đă tạo ra cho ông ta một miếng vải trắng tinh. Đoạn văn viết bằng tiếng Pali như sau: Iddhiyāva pilotikakhandaṃ abhinimmitvā adāsi.”

Cũng ngay khi Cūlapanthaka nhận ra miếng vải trắng trở nên bẩn v́ những cú đánh liên tiếp do chính tay ông, tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đă bàn đến phần này chi tiết hơn như sau:

Đang khi ông ngồi tụng đoạn Kinh “Rajoharaṇaṃ, Rajoharaṇaṃ. Ông đă dùng tay ḿnh đập miếng vải trắng tinh Đức Phật giao cho ông lên thân ḿnh, tấm vải đă trở nên đen ng̣m. Điều này đă khiến ông nhận ra chân lư cho rằng miếng vải trắng tinh đó, chẳng có vết đen dơ bẩn nào trên đó cả; nhưng đến giờ lại biến màu và trở nên bẩn thỉu v́ đă đụng đến thân xác ông. Chính thân xác đó có nguồn mọi sự bẩn thỉu. Điều này, theo ngôn từ Phật giáo, gọi là Paṭikulasaññā (nghĩa là tưởng, hay thực chứng được pháp ghê tởm)Anicasaññā (Thực chứng pháp vô thường) với hai tuệ giác này làm căn cứ, ông đă tăng cường được sức mạnh bằng cách đem áp dụng vào Ngũ Uẩn có nghĩa là chính tâm và thân xác ông. Cho đến khi tuệ giác được đào sâu đúng mức, điều này được gọi là Anulomañāṇa rất gần gũi với điều được gọi là Gotarabhūñāṇa, nằm trên ranh giới phân chia tâm của người phàm tục khỏi những vị Thánh thinh văn Giác. Điều này hàm chứa một sự thật là ông đă gần đạt đến được Thánh Đạo (Magga) và thánh Quả (Phala). Chính vào thời điểm này Đức Phật đă thốt lên ba bài kệ được đề cập đến ở trên. Tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đă mô tả giây phút cao điểm nhất trong biến cố đầy xúc động này như sau:

“Vào lúc kết thúc mấy kệ trên, tỳ khưu Cūlapanthaka đă có trong tay Chín pháp siêu thế, cộng với tứ tuệ phân tích và sáu Phép Thần Thông (Abhiññā)

Điều này có nghĩa là Culapanthaka đă cùng một lúc đạt đến được Bậc A-la-hán, tứ tuệ phân tích và Sáu Phép Thần Thông (Abhiññā)

Lúc này ta quay trở lại Vùng Rừng Xoài, tại đó lương y Jīvaka đang sửa soạn thiết đăi Đức Phật và Chư Vị tỳ khưu đi theo. Jīvaka đang sửa soạn thực hiện nghi thức dâng nước cho Đức Phật rửa tay th́ Ngài ngăn ông lại, và đóng nắp Bát Khất Thực lại Ngài lên tiếng nói.

“Không c̣n một vị tỳ khưu nào đang lưu lại Thiền viện hay sao?”

“Dạ thưa Đấng Thế Tôn, vào lúc này chẳng c̣n vị tỳ khưu nào lưu lại tại thiền viện nữa đâu.”

“Ôi Ngài Jīvaka thân mến, chắc chắc vẫn c̣n một vị nữa” Đức Phật khẳng định.

Nghe Đức Phật nói như vậy, Lương Y Jīvaka liền cử một trong số mấy người hầu chạy đến thiền viện ngay tức khắc để xem c̣n có vị tỳ khưu nào c̣n sót lại thiền viện nữa hay không.

Ngay lúc đó Cūlapanthaka tự nhủ. “Anh tôi đă nói chẳng c̣n một vị tỳ khưu nào sót lại thiền viện cả. Tôi sẽ chứng tỏ cho anh thấy vẫn c̣n khối tỳ khưu tại đó” Sau đó thông qua Phép Thần Thông Cūlapanthaka đă tạo ra một ngàn tỳ khưu tại Thiền Viện, một số đang may y cà sa, một số khác đang nhuộm, trong khi đó một số khác đang tụng Kinh .

Nh́n thấy vậy, tên nô tỳ liền chạy vội về tŕnh lại những ǵ hắn được chứng kiến tại khu Rừng Xoài, nói rằng: “ Dạ thưa ngài, có rất nhiều tỳ khưu c̣n đang ở trong khu Rừng Xoài.”

Nghe thấy điều này, Đức Phật liền bảo người đó quay trở lại và báo cho các vị tỳ khưu đó là Đức Phật muốn gặp một vị tỳ khưu có tên là Cūlapanthaka.

Nhưng khi tên nô tỳ lại báo đó chỉ là bản sao các tỳ khưu giống hệt như nhau v́ khi hắn báo cho họ biết ư định của Đức Phật, th́ đồng loạt tất cả các vị tỳ khưu đều trả lời : “Tôi chính là tỳ khưu Cūlapanthaka; tỳ khưu Cūlapanthaka chính là tôi đây.”

Khi tên nô tỳ của Jivaka quay trở về nhà một lần nữa báo cho Đức Phật hắn không thể phân biệt được người nào là tỳ khưu Cūlapanthaka, Đức Phật liền bảo hắn “Hăy quay trở lại ngay và lần này hăy chú ư nh́n xem ai là người trả lời đầu tiên “Tôi tên là Cūlapanthaka” hăy lập tức thỉnh ngay vị tỳ khưu đó và rồi tất cả các vị khác sẽ biến mất ngay tức khắc.”

Tên nô tỳ của Lương Y Jīvaka đă thực hiện y lời Đức Phật dạy và đă thành công dẫn về tŕnh cho Đức Phật vị tỳ khưu tên là Cūlapanthaka.

Chuyện kể trên được trích trong tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada). Tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) mô tả phần vừa rồi với những chi tiết hơi khác một chút như sau:

“Khi người hầu của Jīvaka quay trở lại và báo cho Đức Phật: tại thiền viện c̣n có rất nhiều vị tỳ khưu, khiến ông ta không thể nào biết được vị nào là tỳ khưu Cūlapanthaka, Đức Phật truyền cho người hầu đó hăy quay lại thiền viện ngay nói rằng, “Nếu ông gặp bất kỳ vị tỳ khưu đầu tiên nào, hăy thỉnh ngay vị đó và nói, Đức Phật muốn tôi đưa ngài đến tŕnh diện ngài ngay tức khắc” Người hầu đă thực hiện y như lời Đức Phật ra lệnh. Ngay lúc đó, toàn bộ những tỳ khưu cùng ứng thân, và các bản sao tỳ khưu Cūlapanthaka liền tan biến hết. Tỳ khưu nói với người đó là hăy về trước đi. Trong khi tỳ khưu theo sau tên người hầu, đang khi người hầu quay trở về nhà tại khu Rừng xoài, và c̣n thực hiện một số việc như rửa mặt mũi chân tay, th́ tỳ khưu Cūlapanthaka đă có mặt tại khu Rừng Xoài trước người đó và đă đến ngồi vào đúng chỗ dành riêng cho ngài.

 

Ví Dụ Thứ Hai:

2a. Từ Một Tạo Ra Nhiều Vật, Và Ngược Lại

 

Trong tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đoạn thứ hai trang 243, Trưởng lăo Buddhaghosa đă kể lại biến cố sau đây làm ví dụ cho phép lạ (thần thông) nêu trên:

Vào một dịp lễ Đặt Bát Hội tổ chức tại thành phố Rājagaha, có khoảng năm trăm cô gái mỗi người đều mang Bánh Trung Thu (Candapuva) đứng dọc theo đường phố để đặt bát cho các vị tỳ kheo. Họ đă gặp Đức Phật nhưng không nghĩ ra phải dâng cho ngài điều ǵ. Khi họ thấy Trưởng lăo Ca Diếp (Kassapa) đang đi theo Đức Phật từ xa xa, một ư nghĩ nổi lên trong đầu và họ nói với nhau, “Ḱa có cả ngài Trưởng lăo của chúng ta cũng đi theo Đức Phật. Chúng ta sẽ dâng cho ngài toàn bộ số bánh chúng ta mang theo đi” Rồi họ đă dâng cho ngài Trưởng lăo Ca Diếp (Kassapa), ngài đă nhận của bố thí chỉ bằng chiếc bát khất thực của ngài. Ngài đă biến chiếc bát đó có thể đựng hết năm trăm chiếc bánh các cô gái biếu tặng. Đoạn văn Pali kể lại vụ việc viết như sau: Thero pattaṃ nīharitvā sabbaṃ ekapattapūra-mattaṃ akāsi. Sau đó ngài trưởng lăo đă dâng tô khất thực đựng đầy năm trăm chiếc bánh của các cô gái biếu tặng cho Đức Phật, đang ngồi chờ ngài ở một nơi nào đó.

Đây là bài tường thuật kể lại trong tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga). Tôi đă cố gắng t́m kiếm thêm một số chi tiết nữa mô tả lại sự kiện này trong nhiều nguồn văn bản khác nữa, nhưng cho đến nay vẫn chưa t́m thấy bất kỳ một nguồn xác thực nào khác. Tuy nhiên, tôi tin chắc phải có một vài chuyện kể được ghi lại đâu đó trong Kinh Phật hay trong một vài đoạn sách nào đó. Xét cho cùng, biến cố đó cũng đă cho chúng ta biết một sự kiện là một vị A-la-hán đă đạt đến được sáu Phép Thần Thông (Abhiññā)) hay có được những sức mạnh siêu phàm nếu ngài muốn, ngài cũng có thể giảm thiểu khối lượng đồ vật mà không ảnh hưởng đến chất lương cũng như hương vị của những đồ vật đó. Như vậy Trưởng lăo Đại Đức Ca Diếp (Kassapa) đă thực hiện được điều đó.

Phép lạ (thần thông) Ngược Lại

Giờ đây, ta có thể rút ra được một hệ luận tất nhiên liên quan đến phép lạ (thần thông) vừa kể trên đó là, nếu đă có thể biến những vật có khối lượng lớn thành nhỏ, ngược lại – biến những vật nhỏ hay số lượng ít thành nhiều th́ cũng là việc thường t́nh và cũng có thể thực hiện được dễ dàng. Một ví dụ thuộc loại này được kể lại trong tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) như sau:

Một lần kia ngài Trưởng lăo Ca Diếp (Kassapa) nhập thiền và đạt đến mức siêu phàm (Nirodhasamāpatti) (có nghĩa là mức độ thiền diệt hay chấm dứt) trong suốt bảy ngày, trong bảy ngày đó ngài rơi vào t́nh trạng quên lăng thế giới bên ngoài mà chỉ hưởng nguồn an ḥa nội tâm và hạnh phúc không cần dùng bất kỳ thức ăn hay ngủ nghê ǵ cả. Đến ngày thứ tám ngài xuất và thóat ra khỏi thiền diệt (samāpatti). Ngài liền ước ao thực hiện đôi điều ǵ đó để giúp đỡ một gia đ́nh nghèo, biết rằng của bố thí dành cho ngài vào ngày hôm đó sẽ đem lại rất nhiều công phúc cho người nào thực hiện bố thí, nghĩ vậy ngài liền đến một túp lều trong đó có một gia đ́nh rất nghèo đang sinh sống. Trưởng gia đ́nh là một người đàn ông nghèo khổ tên là Kālavaḷiya và ngài đứng ngay trước cửa chờ được bố thí. Người vợ nh́n thấy vị trưởng lăo liền cố gắng t́m cách bố thí cho ngài trưởng lăo một tô cháo hoa chẳng có mùi vị ǵ cả, một loại cháo có chất lượng soàng nhất. Nàng vừa mới sửa soạn tô cháo này cho chồng, nhưng rất hoan hỷ dâng cho ngài trưởng lăo xuất phát từ ḷng tin chân t́nh và hân hoan. Vị trưởng lăo nhận được tô cháo liền đem đến dâng cho Đức Thế Tôn, ngài đă dùng phép thần thông và sức mạnh siêu phàm của ḿnh để nhân lên gấp bội cả về khối lượng và chất lượng tô cháo đó, đủ để nuôi sống một số lượng tỳ khưu rất lớn đang tụ tập tại thiền viện ngay lúc đó. Đoạn văn viết bằng tiếng Pali mô tả biến cố này như sau: Thero taṃ gahetvā Bhagavato hatthe ṭhapesi, Bhagavā mahabhikkusanghassa pahonakaṃ katvā adhiṭṭhasi ekapattena ābhatā sabbesaṃ pahosi. C̣n đối với người nghèo khổ Kālavaḷiya, chúng ta nghe kể lại rằng ông đă được nhà vua phong làm một nhà triệu phú trong thành phố vào ngày thứ bảy sau cuộc bố thí cho vị trưởng lăo.

 

2b. Biến thức ăn dở thành ngon; lấy nước sông biến thành bánh kem tuyệt vời.

 

Ví dụ về phép lạ (thần thông) này cũng được ghi lại trong tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) như sau:

Có một lần kia, Trưởng lăo Đại Đức Mahā-anula đă chứng kiến nhiều chư vị tỳ khưu sau cuộc khất thực trở về chỉ nhận được một ít thực phẩm nghèo nàn, vô vị và chẳng ngon lành chút nào và họ đang ngồi dùng bữa bên bờ sông tại quần đảo Sri Lanka [4]. Quá mủi ḷng ngài đă quyết định biến nước sông ngay bên cạnh các vị tỳ khưu trở thành Sappimaṇḍa có nghĩa là một loại kem bơ ngon tuyệt trần, một loại sữa trâu hảo hạng tuyệt trần. [5] vị trưởng lăo liền ra hiệu cho các vị Sa-di (Sāmaṇera) báo rằng nước sông đă biến thành Sappimaṇḍa. Biết được điều đó vị Sa-di đă múc những ly sữa từ ḍng sông, nước sông đă biến một loại thực phẩm tuyệt vời dâng lên cho các vị tỳ khưu. Họ đă thưởng thức và trộn vào cơm của họ đi khất thực được rồi dùng một cách ngon lành.

Tuy nhiên, không có phép lạ (thần thông) nào được thực hiện ngược lại với phép lạ (thần thông) này. Biến đồ ăn ngon trở thành không ngon cả. Bài tường thuật trên chưa t́m thấy được trong bất kỳ một bản văn nào khác. Tuy nhiên tôi chỉ muốn cung cấp tư liệu một ví dụ điển h́nh về quyền lực kỳ diệu thuộc loại này.

 


[3] Từ Bụi Bậm được gọi là những phiền năo trong tâm cũng thường được dùng một lần trước đây. Đó chính là ngay sau khi ngài được Giác ngộ, Đức Phật đă không muốn thuyết pháp về những khám phá của ngài cho nhân loại. Nhận ra thật khó ḷng biết bao đối với những người dân thường. Sau đó ngài được một vị Đấng Phạm Thiên (Brahma) tên là Sahampati. Ngài đă nhắc nhở Đức Phật là dầu sao đi chăng nữa th́ vẫn c̣n một số người vẫn c̣n một lượng rất ít’bụi” bậm ở trong tâm (có nghĩa là Những phiền năo) trong con mắt siêu nhiên của ngài.

[4] Bản văn gọi là Mahatika giải thích tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) cho rằng ở Vương quốc Sri Lanka có một con sông có cùng tên là Gañga (có nghía là Sông Hằng). Chính v́ thế mà sông này hàm chứa ư nghĩa cho rằng con sông được đề cập đến ở đây cũng ở Sri Lanka và và như vậy vị trưởng lăo kể trong bài tường thuật cũng phải là một cư dân Sri Lanka.

[5] Đoạn văn này có tên là Mahāṇīka giải thích rằng Dadhi (sữa đông cục) th́ ngon hơn là Khīra (nước sữa hay là sữa tươi) nhưng Navanīta (bơ) c̣n ngon hơn Dadhi; Trong khi đó Sappi (bơ sữa lỏng) lại c̣n ngon hơn Navanīta rất nhiều. Tất cả các loại Sappimāṇḍa này, chỉ có kem sữa Sappi, được coi như là loại ngon nhất.