|
Nguyên
tác: Supra-Mundane, Psychic
Powers PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
4. Phép lạ thứ tư: Tirobhva: Biến bóng tối trở nên sáng chói và che khỏi tầm nh́n những ǵ đang phơi ra trước ánh sáng
Một vị tỳ khưu đă được phú cho phép thần thông Pāṭithāriya cần tu luyện hành thiền đến mức Thiền Bậc Bốn, như là “Sức Bật” của ngài, ta có thể gọi như vậy và quyết định bằng cách tụng câu. “mong rằng chỗ sáng biến thành tối,” hay “Mong rằng không ai nh́n thấy nơi này cả” và tức khắc nơi đó và cảnh quan đó liền diễn ra như ư nguyện của ngài. Điều này được kể lại trong tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) tác giả Buddhaghosa đă nêu lên một câu hỏi thật thích hợp hỏi rằng: ai có khả năng thực hiện được loại phép lạ (thần thông) này. Để trả lời câu hỏi trên, ngài kể lại những phép lạ (thần thông) liên quan đến chàng trai Yasa và Trưởng lăo Mahāpappina một cách ngắn gọn. Tuy nhiên tiếp theo đây tôi xin mô tả lại cả hai biến cố để hầu quí độc giả muốn biết thêm những chi tiết liên quan.
Liên Quan Đến Trưởng Lăo Yasa
Theo Đại Phẩm (Mahāvagga) thuộc Tạng Luật, biến cố này xảy ra sau khi Đức Phật đă làm cho năm người sống nhờ vào của bố thí đạt đến Bậc A-la-hán. Vào buổi sáng sớm ngày mồng sáu, tháng tám, chàng trai Yasa, con trai duy nhất của một Nhà Triệu Phú trong thành phố Bārāṇasī hay c̣n goi là thành Ba-la-nại (Benares) đă rời khỏi nhà vào buổi đêm, và đến nơi Đức Phật đang cư ngụ. Trên đường đi chàng thanh niên luôn lẩm bẩm câu, “Nơi này quá phiền toái, nơi đây quá buồn khổ”. Lúc đó Đức Phật đang hành thiền bách bộ tại một nơi quang đăng thoáng mát. Nh́n thấy chàng trai ngài liền tạm ngưng hành thiền, và trải tọa cụ xuống đất và ngồi trên đó, khi chàng trai tiến lại gần ngài, miệng vẫn thốt lên những lời lẽ như vậy, ngài liền cho gọi chàng trai lại và nói “Nơi này chẳng phiền toái đâu, nơi này chẳng có ǵ buồn bă cả.” Hăy đến và ngồi xuống đây. Ta sẽ thuyết pháp cho con.” Lời nói của Đức Phật khiến cậu bé cảm động và thích thú. Cậu bỏ dép và ngồi xuống một chỗ thích hợp gần bên Đức Phật. Sau đó, Đức Phật thuyết pháp cho cậu về nắm pháp tuần tự để được tiến triển hay là Anupubbīkathā, bắt đầu với bố thí, giới luật, cơi thiên đường, rồi đến những mối nguy do thú vui giác quan đem lại và lợi ích diệt dục là như thế nào. nh́n thấy được (qua Nhăn Thông) từ lúc đó tâm chàng trai đă dịu trở lại, trở nên linh hoạt hơn và thoát khỏi mọi triền cái, chàng trai hoàn toàn choáng ngợp trong trạng thái mê ly và ánh sáng chói chang, Đức Phật liền tiến hành giải thích cho cậu về Tứ Diệu Đế nghĩa là đau khổ là thế nào, nguyên nhân của đau khổ từ đâu mà ra, diệt được khổ và cách thức diệt khổ như thế nào. Vào cuối bài thuyết pháp chàng trai Yasa đă đạt đến Pháp Nhăn giúp giải thóat khỏi mọi vết nhơ bẩn thỉu. Thể hiện được pháp cho là “bất kỳ những ǵ được tạo thành sẽ đi đến chỗ bị hủy diệt.” Tâm chàng trai mở ra khi nhận được Pháp Nhăn, nên giống như một miếng vải trắng tinh sạch không một vết nhơ, sẵn sàng thấm thuốc nhuộm. Lư do tại sao chàng trai rời khỏi nhà trong thời gian như vậy đă được kể lại trong một đoạn văn tiếng Pali như sau: Vào thời đó trong thành phố Bārāṇasī có một chàng trai tên là Yasa, con trai của một nhà triệu phú, một thanh niên được nuôi dạy hết sức cẩn thận. Cậu được cha mẹ xây cho ba lâu đài để ở, một dành cho mùa đông, một dùng vào mùa hè, và c̣n một căn dùng vào mùa mưa. Lúc nào cậu cũng được các nữ tỳ chơi nhạc để tiêu khiển, chẳng có một nam tỳ nào cả. Trong suốt bốn tháng mùa mưa chàng trai đă thưởng thức mọi thú vui sắc dục trong lâu đài mùa mưa và không bao giờ rời khỏi ngôi ṭa lâu đài đó để ra ngoài hay xuống phố đi đây đi đó cho khuây khỏa. Bước ngoặt trong đời chàng trai bắt đầu xuất hiện vào một đêm kia sau khi đă tiêu khiển đủ mọi thú vui do các tỳ nữ đem lại đến choáng ngợp, chàng đă đi ngủ sớm có nghĩa là trước khi các nữ tỳ của chàng lên giường. Thế rồi, vào những canh đầu tiên trong đêm đó chàng đă thức giấc, do ánh sáng một ngọn đuốc cháy suốt đêm. Điều này khiến nổi lên một cảm nghĩ lạ lùng chàng trai chưa từng bao giờ mơ thấy trước đó. Trước mặt chàng nằm la liệt những cô gái trẻ với đủ mọi điệu bộ lẳng lơ, một số ôm đàn hạc trong tay, những cô khác ôm trống đeo ở cổ và trên ngực, nhiều cô khác đầu tóc rối bù. Một số khác miệng phun nước miếng và số c̣n lại nói lảm nhảm trong giấc mộng. Toàn cảnh diễn ra trước mặt chàng giống như cảnh một nghĩa trang chất đầy xác chết nằm rải rác la liệt đây đó. Chàng trai bị choáng ngợp trước cảm nghĩ mệt mỏi ảo tưởng. Khiến cho chàng phải thốt lên, “Nơi này quá phiền toái, nơi đây thật buồn khổ !”. Trong trạng thái mệt mơi tràn ngập những thú vui nhục dục như vậy, th́nh ĺnh chàng trai thức dậy sỏ dép và rời khỏi nơi đó qua cánh cửa có các vị chư thiên canh gác cẩn thận, các vị này đă giúp mở cửa cho chàng với ư nghĩ “Mong rằng việc ra đi của chàng trai theo đuổi cuộc sống vô gia cư không bị ngăn cản.” Sau đó chàng trai tiến thẳng tới cổng thành, tại đó cũng có các vị chư thiên giúp mở cổng với cùng một ư nghĩ như những chư thiên đầu tiên giúp mở cửa cho chàng. Sau khi đă thoát ra ngoài thành, Yasa tiến thẳng tới Công Viên Con Nai tại Isipatana và cuối cùng chàng đă gặp Đức Phật, nghe bài thuyết pháp của ngài và đạt được Pháp Nhăn, như đă kể ở trên. Từ những đoạn trích trong Kinh Pali, chúng ta c̣n biết thêm một số chi tiết về chàng trai như sau: Sáng hôm sau người ta phát hiện ra chàng trai bị mất tích, khi mẹ chàng trở vào cung và không gặp được con trai ở đó, bà vội vă thông báo tin chẳng lành cho chồng. Ông liền sai người đi t́m kiếm chàng khắp nơi. Trong khi đó chàng trai đi theo chánh đạo dẫn đến thành Isipatana tại công viên con nai. Ở đó người cha vô cùng ngạc nhiên, nhận ra đôi dép của con trai, sau đó ông lần theo lối đi của chàng và tiến thẳng tới chỗ Đức Phật và con trai của ông đang ngồi đàm đạo. Đức Phật nh́n thấy nhà triệu phú từ xa, ngài suy nghĩ nên thực hiện một phép lạ (thần thông) ngăn cản hai cha con không nh́n thấy nhau vào lúc này.(đoạn văn viết bằng tiếng Pali như sau: Disvā Bhagavato etadahṅi yannūnāhaṃ tathārūpaṃ iddhābhisankhāraṃ abhisañkhāreyyaṃ yathā seṭṭhī gahapati idha nisinno idha nṅinnaṃ. Yasaṃ kulapūttaṃ na pasayyạti. Atha kho Bhavavā tathārūpaṃ iddhābhisankhāraṃ abhṅankhiresi.) Nh́n thấy Đức Phật ngồi đó, cha chàng trai Yasa tiến lại gần ngài và hỏi xem ngài có nh́n thấy con trai của ông đến đây không. Thế là Đức Phật đă trả lời câu hỏi của ông như sau “Hăy ngồi xuống đây cái đă, ôi ông chủ gia nhân ơi. Có lẽ, đang khi ông ngồi đây th́ ông có thể nh́n thấy con trai Yasa cũng đang ở đây.” Câu trả lời của Đức Phật khiến cho Nhà Triệu Phú hài ḷng, ông nghĩ có lẽ con trai ông đang ngồi ở đó. Ông có thể nh́n thấy con trai ḿnh, cậu ta cũng đang ở quanh đây thôi. Thế rồi ông tỏ ḷng tôn kính Đức Phật và ngồi đúng vào chỗ dành cho ông. Cha của Yasa ngồi ở một bên, Đức Phật liền thuyết pháp cho ông về năm pháp tuần tự giúp tiến bộ quan trọng như thế nào. (Anupubbīkatha) rồi ngài diễn giảng Tứ Điệu Đế y hệt như cách ngài đă làm cho chàng trai Yasa của ông. Vào cuối bài thuyết pháp người cha của chàng trai Yasa cũng đạt được Pháp Nhăn . Sau khi người Cha đă đạt đến được Pháp Nhăn, Đức Phật chúc lành với một niềm tin không lay chuyển nơi Phật pháp, sau đó ông vượt qua mọi nghi ngờ nơi Tam Bảo, ông được phú cho ḷng can đảm không ǵ lay chuyển nổi. Không nghe theo bất kỳ lời nói nào của ai liên quan đến Phật Pháp. trong ngây ngất và tin tưởng ông đă thưa với Đức Phật. “Ôi Đấng Thế Tôn, lời thầy thật là đầy sức sống, lời thầy quá ư tốt đẹp”. Bằng nhiều cách Đấng Thế Tôn đă công bố Phật Pháp, giống như người chỉ chánh đạo đối lại những ǵ đă bị đảo lộn, hay mở ra những ǵ đang c̣n bị tù túng, chỉ lối cho những kẻ lạc đường và thắp lên ngọn đèn nơi tối tăm để cho người sáng mắt có thể nh́n thấy bất kỳ điều ǵ như b́nh thường. “Do vậy tôi đi đến nương nhờ đức Phật - Giáo Pháp và Tăng Già. Mong rằng Đức Thế Tôn nhận con là một cận sự nam (upāsaka) hết ḷng v́ đạo pháp cho đến hết đời, kể từ ngày hôm nay trở đi”. Với lời phát biểu đầy đức tin không ǵ lay chuyển như vậy, Cha chàng trai Yasa đă trở thành người cận sự nam đầu tiên (upāsaka) đă đi đến nương nhờ đức Phật, giáo pháp và Tăng già. Nhiều chi tiết nữa được kể lại trong kinh Pali như sau: Đang khi Đức Phật c̣n thuyết pháp một bài về năm pháp tuần tự tạo sức mạnh tiến tới quan trọng dành cho Cha của chàng trai Yasa, ông Bố chiêm ngưỡng những lời dạy của Đức Phật một lần nữa, có thể phát triển tâm và cập nhật thâm sâu hơn vào tuệ giác. Cho đến khi ông đạt đến giác ngộ hoàn toàn và đă trở thành một vị A-la-hán, với tâm được giải thóat hoàn toàn khỏi những lậu hoặc (savas) và thụy miên phiền năo trong tâm thông qua diệt dục toàn diện. Lúc này thông qua phép Nhăn Thông, Đức Phật biết được toàn bộ tâm chàng trai Yasa đă được giải thóat khỏi mọi lậu hoặc thông qua diệt bỏ hết những tham lam phù phiếm và nhận ra được bằng cách nào chàng không thể nằm ở vị thế một cận sự nam để khỏi phải trải qua nhũng dục lạc một lần nữa. Yasa đă loại bỏ hết những ngụy trang thần thông vẫn ḱm hăm chàng cho đến lúc này c̣n che dấu Yasa không nh́n thấy cha ḿnh và ngược lại. Lúc này Cha Yasa có thể nh́n thấy con trai của ḿnh, thực sự đang ngồi ngay sát bên ông từ bấy lâu nay. Chính v́ thế ông nói với con trai. “Mẹ con đă đau khổ buồn thảm rất nhiều, con trai Yasa yêu quí. Xin hăy cứu mẹ con khỏi chết.” Nghe đến đây chàng trai liền ngước mắt nh́n lên Đức Phật như thể cầu khẩn ngài nói thay cho chính ḿnh. Đức Thế Tôn hiểu ư chàng liền nói với Nhà Triệu Phú mà rằng. “Ôi chủ gia nhân, ông đang suy nghĩ ǵ thế? Lần đầu tiên Chàng Trai Yasa đạt được Pháp Nhăn cùng một cách như ông, với tuệ giác ở mức độ Đấng Nhập Lưu. Sau đó, cậu ta chiêm ngắm thành tích ḿnh đă đạt được một lần nữa (đang lúc đó ta đang thuyết pháp cho ông.). Lúc này th́ tâm của chàng trai Yasa đă được giải thoát khỏi mọi Lậu hoặc (savas) thông qua tận diệt hết các tham lam. Lẽ nào cậu ta lại phải trở thành một cận sự nam để lại phải qua những thú vui nhục dục như trước?” Nhà triệu phú trả lời, “Không đời nào chuyện đó diễn ra, ôi Đức Thế Tôn. Một khi tâm của Yasa đă được giải thoát khỏi mọi lậu hoặc (savas) thông qua tận diệt hết mọi ảo tưởng. Chính là một thắng lợi quá lớn cho con trai tôi. Con trai tôi thật xứng đáng được như vậy. Mong rằng Đức Thế Tôn, cùng với Yasa và các tỳ khưu đi theo, đến nhà tôi tham dự một bữa tiệc vào ngày hôm nay.” Nghe vậy Đức Phật giữ im lặng, ra hiệu cho chàng trai biết ngài đồng ư và chấp nhận lời mời của ông. Nhà triệu phú hiểu ra điều này liền đứng lên, tỏ ḷng tôn kính Đức Phật quay quanh Đức Phật dừng lại ở bên trái ngài và rồi ra đi. Ngay sau khi nhà triệu phú ra đi, Chàng trai Yasa đă yêu cầu Đức Phật cho Thọ đại giới .”Ôi Đức Thế Tôn, mong rằng con có thể nhận Đại Thọ Giới gia nhập vào Tăng già của Đức Thế Tôn được chăng?” rồi sau đó Đức Phật ban cho phép chàng trai chấp nhận EHI, với những lời lẽ sau đây. “EHI hăy đến và trở thành tỳ khưu, mong rằng Phật Pháp được diễn giải cho tốt, hăy sống cuộc đời phạm hạnh.” Nhờ những lời trên Chàng Trai Yasa được ban Đại Thọ Giới theo cách EHI và cũng chính thông qua Bậc A-la-hán, con số các vị A-la-hán đă lên đến con số 7 người (kể cả Đức Phật và năm người sống bằng của bố thí). Tuy nhiên người ta không kể lại chi tiết việc tỳ khưu Yasa nhận y cà sa và Bát khất thực như thế nào, và Yasa đă nhận nghi thức cắt tóc và râu khi nào và ở đâu. Nhưng trong tác phẩm Paṭhamasambodhikathā do Trưởng lăo Kromphra Paramānujitajinorasa biên soạn có mô tả lại một biến cố đó như sau: “Ngay sau khi cha ông lên đường về nhà, Chàng thanh niên Yasa đă xin Đức Thế Tôn được nhận thọ đại giới. Rồi sau đó Đức Phật đă ban cho chàng chức tỳ khưu EHI, thốt lên cùng một cách thức giống như ngài đă thực hiện với năm vị A-la-hán sống bằng của bố thí. C̣n về y cà sa và bát khất thực và các đồ dùng cá nhân khác, toàn bộ những thứ đó đă được đem đến cho chàng từ trời rơi xuống, nhờ những công đức chàng đă tích lũy được từ trước. Trong khi đó râu và tóc của chàng tự động biến mất. Rồi ngài lănh y cà sa mặc và mang theo nhiều đồ cần thiết hàng ngày; như vậy đă hoàn tất nghi lễ nhận thọ đại giới của chàng trai Yasa” Một điều cần lưu ư là những đoạn văn trên do nhà soạn thảo chép từ những bản Kinh Phật cổ tức là Kinh Pali và các tập Chú Giải. Tác giả chẳng tự biên soạn điều ǵ cả, Tuy nhiên, tác giả đă không chịu khó đề cập đến những đoạn văn đó đă được sắp xếp ở đâu.(v́ vào thời đó, điều đó không nhất thiết phải làm như vậy.) Đây là một bài tường thuật ngắn viết về Trưởng lăo Yasa, đặc biệt đoạn văn cho thấy Đức Phật đă tận dụng phép thần thông Tirobhāva tức là phép lạ (thần thông) ngăn không cho thấy người hay đồ vật mà thực tế có thể dễ dàng nh́n thấy. Thêm vào biến cố này, chúng ta c̣n được biết Đức Phật cùng với Trưởng lăo Yasa, đă đến tham dự bữa tiệc tại nhà riêng của nhà triệu phú ra sao vào buổi sáng ngày hôm sau. Mẹ và vợ của chàng thanh niên Yasa cũng đă chăm sóc Đức Phật th́ nhất thiết hai người đó cũng đă nhận ra chàng thanh niên Yasa đă trở thành tỳ khưu ra sao, nhưng ta không thấy đề cập ǵ đến phản ứng của hai người cả. Rồi sau đó Đức Phật đă thuyết pháp cho cả hai người phụ nữ này về năm pháp tuần tự quan trọng phải tiến tới là như thế nào, đồng thời ngài cũng diễn giải cho họ về Tứ Diệu Đế giống hệt như Ngài đă thuyết pháp cho Yasa và cha của chàng. Vào cuối bài thuyết pháp cả hai đă được nhận Pháp Nhăn, họ hết lời khen ngợi tài thuyết pháp của Đức Phật và tuyên bố trở thành là cận sự Nữ (upāsikās) có nghĩa là đồ đệ đạo hữu trong suốt cuộc đời c̣n lại của họ. Theo Kinh Pali thuật lại, hai người phụ nữ đó đă trở thành những cận sự nữ Phật giáo đầu tiên vậy.
Trưởng lăo Đại Đức Maha Kappina
Trưởng lăo Kappina là hoàng tử của nhà vua nước Kukkutavatī. Ngài đă lên kế vị vua sau khi cha truyền lại ngai báu cho ngài. Hoàng hậu của nhà vua tên là Anojādevī, là con gái của vua thuộc thành phố Sāgala, vương quốc Maddarraṭṭha. Nhà vua có năm con ngựa ṇi có tên theo thứ tự như sau: Bala, Balavāhana, Puppha. Pupphavāhana và Supatta, con ngựa cuối cùng được dành riêng cho nhà vua. Trong khi đó bốn con c̣n lại được giao cho những người khác để đưa nhà vua đi thăm nhiều nơi trong khắp vương quốc để xác định xem những tin tức được tường tŕnh có thực sự diễn ra nơi Tam Bảo tức là Phật, Pháp và Tăng già hay không và chính xác đến mức độ nào. Mỗi buổi sáng ngài đều cho các sứ giả dùng bữa điểm tâm rồi sai họ bủa đi khắp nơi để thu thập tin tức. Họ chỉ cần vượt qua một ít Yojana mỗi ngày rồi lại quay trở về báo hết mọi tin tức cho nhà vua. Một ngày kia chính nhà vua cũng cưỡi ngựa Supatta ra đi thu thập tin tức như vậy, cùng với một đoàn tùy tùng cưỡi ngựa khoảng cả ngàn con ngựa. Họ đă bắt gặp một đoàn thương gia lên đến năm trăm người đang mệt mỏi lê bước tiến về phía thành phố. Nhà vua nghĩ trong tâm, “Những người này chắc đă phải di chuyển từ một vùng đất xa lắm đến đây th́ phải, chính v́ vậy họ xem ra có vẻ mệt mỏi và kiệt sức. Rất có thể trẫm nên khai thác một ít tin tức từ những thương gia này.” Nói đoạn nhà vua ra lệnh cho các thương gia đến gặp ngài và hỏi họ, nói rằng, “ Các ngài từ nước nào tới đây vậy?” “Ôi Tâu Đức Đề Bà” một vị thương gia lên tiếng, “chúng tôi đến từ một miền xa xôi cách đây cả 120 Yojana, ở đó có một thành phố tên là Sāvatthi. Chúng tôi đă đến từ thành phố đó.” Nhà vua lên tiếng, “Ở đó có điều ǵ các khanh có thể cho trẫm biết được chăng?” Họ trả lời, “Ôi Tâu Đức Đề Ba, ở đó chẳng có ǵ quan trọng cả, chỉ trừ có một điều thành phố đó đă có Đức Chánh Đẳng Chánh Giác giáng lm ở đó.” Nghe thấy những lời đó nhà vua tràn ngập vui mừng với năm trạng thái phỉ lạc làm cho nhà vua quên mất những ǵ đang diễn ra xung quanh đó trong giây lát. Một nguồn vui tràn ngập đă khiến nhà vua quên mất điều các thương gia vừa cho ngài biết trước đó khiến ngài lại nhắc lại câu hỏi và nhà vua đă nhắc lại những câu hỏi ba lần liên tiếp như vậy. Cho măi đến lần thứ tư nhà vua mới có thể kiểm sóat được chính ḿnh và ngài hỏi họ thêm. “Thế không c̣n tin tức ǵ nữa hay sao?” Khi họ cho nhà vua biết cả Giáo Pháp và Tăng Già cũng được sanh ra ở đó. Nhà vua lại vui mừng hơn truớc về những tin tức đo, rồi ngài ban cho họ ba ngàn tiền làm phần thưởng. Sau đó nhà vua truyền cho đoàn tùy tùng gồm một ngàn cận thần, “Đến giờ trẫm mới nghe biết Đức Phật, Giáo Pháp và Tăng-Già đă được sinh ra trên cơi đời này, trẫm sẽ không quay trở về thành phố nữa và muốn đến gặp Đức Phật và dành cuộc đời c̣n lại của trẫm đến sống cuộc đời phạm hạnh với ngài. Thế các khanh có ư kiến và làm ǵ không?” Họ đồng thanh trả lời. “Tâu Bệ Hạ, chúng hạ thần cũng muốn theo gương bệ hạ.” Rồi nhà vua truyền cho những người lưu giữ hồ sơ hoàng gia ghi lệnh của ngài lên một tấm bia bằng vàng và truyền cho các thương gia, nói rằng “Hoàng hậu Anojā sẽ ban thưởng cho các khanh ba trăm ngàn đồng. Trẫm yêu cầu các khanh hăy thông báo cho hoàng hậu là trẫm truyền lại ngai vàng cho Hậu. Mong rằng Hậu lên ngôi vua và sống hạnh phúc. Nếu Hậu có hỏi các khanh, trẫm đi đâu, các khanh cứ nói cho Hậu biết là trẫm sẽ tiến hành cuộc sống vô gia cư và cống hiến cuộc đời c̣n lại của trẫm cho Đức Phật, Nhà vua đă thực hiện điều này trước khi về cơi thiên thai.” Toàn bộ các vị cận thần của nhà vua cũng sai người về báo cho vợ con của họ như vậy và mọi sự đă được thực hiện đúng y như vậy, Đức vua cùng với một ngàn vị cận thần đă rời khỏi địa điểm đó và tiến thẳng về thành phố Sāvatthi. Đức Thế Tôn vào buổi sáng ngày hôm đó đă nh́n thấy có người xuất hiện trên mạng Nhăn Thông của Ngài và đó là nhà vua Kappina cùng với một ngàn vị cận thần đang trên đường đi và qua phép nhăn thông ngài đă nh́n thấy tất cả những ǵ đă xảy ra ngay cả trước đó. Đức Phật cũng biết rơ toàn bộ họ đều đă may mắn có tiềm năng đạt đến bậc A-la-hán. Ngài cũng c̣n biết trước họ cũng sẽ gặp ngài vào ngày hôm sau. Chính v́ thế, ngài đă mặc y cà sa và lấy bát khất thực vượt một chặng đường khoảng hơn 120 Yojana để chào đám người đó. Chính Ngài ngồi dưới gốc một cây đa cổ thụ gần bờ sông Candabhāganadī, tỏa ra ánh sáng sáu màu cùng hương thơm ngọt ngào dâng trào. Nhà vua cùng đoàn tùy tùng phải vượt qua ba con sông trước khi có thể tiến đến chỗ Đức Phật đang ngồi thiền chờ họ. Con sông đầu tiên họ phải vượt qua có tên là Āravapacchā, con sông thứ hai tên là Nilavahan và sau cùng là con sông CandabhĀga. Cả ba con sông đều rất rộng và không có bất kỳ cây cầu, thuyền tầu hay bè mảng có thể giúp họ qua sông. Chính nhờ phép lạ (thần thông) mà tất cả họ đă thành công vượt qua được cả ba con sông. Cùng với toàn bộ ngựa đi trên mặt nước giống như trên mặt đất cứng. Tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) đă mô tả t́nh tiết này như sau: Tiến lại gần bờ sông, nhà vua lên tiếng hỏi, “Tên sông này là ǵ vậy?” họ trả lời “Tâu Hệ Hạ, con sông có tên là Āravapacchā,.” Nhà vua liền hỏi thêm, “Sông có rộng không?” “Tâu Bệ Hạ, Sông sâu một Gāvuta và rộng khoảng hai Gāvuta.” (một Gāvuta bằng 4 km.) Nhà vua hỏi thêm, “Có kiếm đâu ra tàu thuyền hay bè mảng ǵ không?” “Tâu Bệ Hạ, chẳng có ǵ cả.” Như vậy nhà vua nói. “Thế th́ đợi cho đến lúc chúng ta t́m được tầu thuyền và bè mảng chắc đứa bé mới sanh ra chắc đă phải đạt đến tuổi già, và người có tuổi chắc đă chết từ lâu. Lúc này trẫm không có nghi ngờ hay lưỡng lự ǵ cả, phải tiến tới bằng bất cứ giá nào để trẫm dâng hiến cuộc đời c̣n lại của trẫm cho Tam Bảo. Nhờ phép thần thông của Tam Bảo, mong rằng nước biến thành điều ǵ đó không phải là nước.” Nói xong những lời đó, nhà vua nhập thiền định nhất quán không lay chuyển vào các ân đức Tam Bảo, Nhà vua liền cưỡi ngựa đi trên mặt nước, tiếp theo sau là đoàn tùy tùng của nhà vua đi theo sau, mọi người cũng có cùng thái độ tuệ giác giống y hệt như nhà vua. Lạ lùng thay, toàn bộ ngựa đều phi nước đại trên mặt nước thoải mái như thể đang phi trên mặt đất vậy. Và toàn bộ đoàn ngựa đă qua sông ráo chân. Nhà vua và đoàn tùy tùng cũng vượt qua sông thứ hai và thứ ba y hệt như vậy, ngay sau khi họ đă vượt qua con sông thứ ba ráo chân, họ nh́n thấy luồng sáng sáu màu phát ra và mùi thơm ngào ngạt lan tỏa từ thân xác Đức Phật đang ngồi thiền dưới gốc cây đa. Toàn bộ cây đa, như cành cây, nhánh to nhánh bé và lá đều được tắm trong ánh sáng siêu nhiên đó. Toàn bộ đều giống như được mạ một lớp vàng vậy. Hiện tượng đầy kinh ngạc này bảo đảm cho nhà vua một điều rằng những ánh sáng thiên cung tuyệt vời đó chắc chắn phải thuộc về Đức Phật và nguồn phát ra thứ ánh sáng đó chẳng phải ai khác hơn là đức Thế Tôn vậy. Nhà vua nghĩ trong tâm Đấng Toàn Giác chắc chắn đă phải nh́n thấy họ đang tiến tới và chính v́ vậy Ngài đă ngồi thiền dưới gốc cây đa đó và đợi tất cả chúng ta. Tất cả họ xuống ngựa và tiến lại gần Đức Thế Tôn, ngài đă thuyết pháp cho họ một bài nhờ vậy mà toàn bộ họ đă đạt được Pháp Nhăn và tất cả đă yêu cầu được nhận Thọ Đại Giới.
Biến Không Khí Thành Những Vật Rắn Chắc
Chấp nhận ban Thọ Đại Giới cho họ, Đức Phật đă cân nhắc đắn đo. “Có nên lấy phép lạ (thần thông) để tạo y Cà Sa và bát Khất Thực bọn người này chăng?” Nhớ lại tiền kiếp của họ, Ngài được biết họ đă từng dâng một ngàn y cà sa cho một ngàn vị phật độc giác. Một lần nữa, mới xẩy đây thôi, có một đức phật giáng trần với tên gọi là Ca Diếp (Kassapa), họ cũng đă dâng hai mươi ngàn bộ y cà sa cho hai mươi ngàn tỳ khưu. Điều này khiến họ có thể được nhận y Cà Sa và bát Khất thực một cách kỳ diệu. Sau khi nhận ra điều này, Đức Phật liền đưa tay phải ra và nói với họ, “Hăy lại đây, và trở thành tỳ khưu. Hăy theo đuổi cuộc sống phạm hạnh v́ muốn diệt trừ đau khổ.” Ngay sau đó xuất hiện đầy đủ y Cà sa và bát khất thực cùng những vật dụng cần thiết cho những người này sử dụng. Sau khi họ đă được mặc y cà sa và nhận những vật dụng cần thiết. Họ trông giống hệt những vị Trưởng lăo đă được nhận Thọ Đại Giới cả trăm năm nay. Tất cả họ đều bay lên trời, rồi hạ xuống để tỏ ḷng tôn kính Đức Thế Tôn và ngồi vào vị trí dành riêng cho họ. Dưới đây là một số nhận định của tôi liên quan đến những đoạn trên đây. Đoạn nói về những người ngày đă dâng một ngàn bộ y Cà sa cho các vị phật Độc giác và cho hai mươi ngàn Chư vị tỳ khưu được trích trong Kinh Phật gọi là Thí Dụ Kinh (Apadāna) (33/186) kể lại tiền kiếp của nhà vua Mahāpappina. Điều này chứng tỏ một chân lư cho rằng bất kỳ một điều ǵ được nhận một cách lạ lùng đều phải có cơ sở, cũng như nên đặt cơ sở trên luật nhân quả. Không có việc dâng cúng nào đó trong quá khứ làm nhân duyên th́ chẳng hy vọng nhận được bất kỳ điều ǵ hậu quả cả. Chúng ta cũng nên nhớ rằng Đức Phật không thể tạo ra bất kỳ vật dụng cần thiết nào cho toàn bộ Chư Vị A-la-hán đó. Một ví dụ được nêu lên trong trường hợp ngài Bāhiya. Ngay cả sau khi ngài đă đạt đến bậc A-la-hán, sau khi đă nghe Đức Phật thuyết pháp, chính ngài đă nói với ông hăy tự đi kiếm lấy cho ḿnh y cà sa và bát khất thực. Điều này chứng tỏ bāhiya chưa tích lũy được loại công đức này và như vậy ngay cả Đức Phật cũng klhông thể tạo ra được y cà sa và bát khất thực cho ngài Bahiya. Đối với những ai biết tiếng Pali đồng thời muốn t́m hiểu trực tiếp đoạn này, chúng tôi xin giới thiệu đoạn văn (trích từ tập chú giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) dưới dây như sau: “Desanāvasāna rājā saparivāro sotāpạttiphale patiṭṭhahi. Atha sabbeva uṭṭhahitvā pabbajjaṃ yāciṃsu. Satthā :Āgamissati mu kho imesaṃ kulaputtānaṃ iddhimayapattacūvaranti” upadhārento “Ime kulaputtā paccekabuddhasahassassa cūvarasahassaṃ adaṃsu. Kasapabuddhakāle vīsatiyā bhikhusahassānanpi visati cūvarasahassāni adaṃsu. Anacchariyaṃ imesaṃ iddhimayapattacūvaragamananti” ñatvā dakkhinahatthaṃ pasāretvā “Etha bhikkhavo, caratha brahmacariyaṃ sammā dukkhasa antakiryāyāti” āha. Te tāvadeva aṭṭhaparikkhāradharā vassasatikattherā viya hutvā vehāsaṃ abhuggantvā paccoroitvā satthāraṃ vanditva nīsidiṃsu.” Tuy nhiên, những đoạn Pali dài hơn vẫn không làm cho sự việc rơ ràng hơn cho những ai muốn biết thêm nhiều chi tiết khác nữa. Rất có thể, ngay sau khi đưa cánh tay phải ra và nói như vậy, liền xuất hiện những đồ cần dùng cho tất cả các tỳ khưu đă được tạo ra một cách mầu nhiệm. Ngay sau đó nhờ những hành động công đức họ đă thực hiện được trong quá khứ. Rồi họ bắt đầu xuống tóc và mặc y cà sa, hay cũng có thể họ không xuống tóc ngay lúc đó (tóc của họ tự động rụng hết cùng một lúc) nhưng chỉ mặc y cà sa mà thôi. Lại nữa, điều này có thể xảy ra, ngay sau khi Đức Phật đă phán như vậy, th́ quần áo đời thường của họ biến mất và rồi được thay thế ngay tức khắc bằng áo cà sa cho các vị tỳ khưu trên ḿnh họ. Trường hợp thứ hai này giống như việc thay quần áo về phần các opapātika có nghĩa là các vật vô h́nh. Thường hay xảy ra một cách nhanh chóng lạ thường. Toàn bộ những điều vừa nêu trên tôi xin dành để cho các học giả phê phán v́ điều này vượt quá hiểu biết và kiến thức của tôi vào lúc này. Biết bao nhiêu phép lạ (thần thông) như vậy đă được ghi lại trong Kinh Phật, vậy mà với một người hiện đại, h́nh như họ vẫn không thể tin được. Trong tập Chú giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) c̣n có một số chi tiết như sau: Khi các sứ giả thương gia đến gặp hoàng hậu và tường tŕnh về những ǵ họ được yêu cầu phải làm, ngoài việc trả cho họ phần thưởng ba trăm ngàn đồng vàng, hoàng hậu c̣n cho thêm một số tiền khoảng chín ngàn đồng nữa. Đây là món tiền thưởng cho những tin tốt lành họ đă đem đến cho hoàng hậu. Có nghĩa là việc xuất hiện của Tam Bảo. Cuối cùng hoàng hậu cùng với các bà vợ của một ngàn vị cận thần đi theo nhà vua, đă công bố theo gương nhà vua. Tuy nhiên, họ không cưỡi ngựa, nhưng ngồi trên một ngàn chiếc xe có ngựa kéo. Trên đường đi họ cũng gặp ba con sông phải vượt qua. Nhờ vào quyết định trung thành, họ đă thành công vượt qua sông theo cách nhà vua và các vị cận thần đă thực hiện. Cho đến khi họ đến gặp Đức Phật, ngài vẫn đang ngồi thiền dưới gốc cây đa, cùng với nhà vua Mahākappina và các vị cận thần của ngài ngồi bên cạnh. Tuy nhiên nhờ phép thần thông ngụy trang Đức Phật đă khiến cho nhà vua và các vị cận thần không thể nhận ra hoàng hậu, khiến cho hoàng hậu và đám tùy tùng không thể nhận ra nhà vua và những người cận thần vào lúc đó. Khi hoàng hậu hỏi Đức Phật về nhà vua chồng của bà, Đức Phật nói với hoàng hậu “Ôi hoàng hậu, hăy ngồi xuống đây, chút xíu nữa ngài sẽ nh́n thấy Hoàng Thượng ngay tại đây.” Đương nhiên là hoàng hậu và đoàn tùy tùng rất phấn khởi chắc chắn là chẳng bao lâu nữa họ sẽ có thể gặp được nhà vua và các vị cận thần. Thế là họ ngồi vào chỗ dành cho họ. Đức Phật đă diễn giảng cho họ năm pháp tuần tự phải tiến tới. Tiếp theo ngài cũng diễn giảng Tứ Diệu đế cho các phụ nữ đó. Cuối cùng hoàng hậu và đoàn tùy tùng cũng nhận được Pháp Nhăn và trở thành Đấng Nhập Lưu. Trong khi đó nhà vua cùng với các vị cận thần ngồi gần ngay bên đă nhập thiền một lần nữa những ǵ Đức Phật đă thuyết pháp trong bài giảng cho hoàng hậu và đoàn tùy tùng và nhà vua đă đạt đến bậc A-la-hán cùng với bốn loại Vô Ngại Giải Đạo (paṭisambhidā) vào cuối bài thuyết pháp. Sau khi biết được điều này Đức Phật đă giải tỏ sức mạnh thần thông của ngài và khiến cho các phụ nữ nh́n thấy đức vua và các vị cận thần của ngài lúc này đă trở thành các vị đồ đệ bậc thánh A-la-hán . Lư do được nhắc đến trong kinh Phật ở đây chính là giống như trường hợp chàng trai Yasa và cha cậu, Đức Phật biết rằng nếu các phụ nữ này trông thấy chồng họ sớm hơn th́ tâm trí họ có thể không tập trung được v́ chú ư của họ có lẽ sẽ bị phân tán v́ h́nh bóng người đàn ông. Điều này có thể ngăn cản bước tiến tới đến thánh đạo. Nhưng sau khi họ đă đạt đến thánh đạo và kết quả là họ đă trở thành Đấng Nhập Lưu họ sẽ được chúc lộc lành với đức tin không thể lay chuyển nổi vào Tam Bảo. Chính v́ thế họ được phép nh́n thấy chồng sẽ không tạo ra nguy hại cản đường thành đạt của họ nữa. Vừa nh́n thấy nhà vua đă trở thành tỳ khưu, những người đàn bà liền phủ phục trước chồng và lên tiếng “Thật tuyệt vời, ôi người tôi yêu, chàng đă trở thành hoàn hảo, cuộc sống tịnh tấn trước mặt em” nói xong, họ liền đứng vào đúng vị trí của họ và xin Đức Phật ban Thọ Đại Giới cho họ. Đức Phật nói “các ngươi có thể đi đến thành phố Sāvatthi và được thọ giới theo nhóm các tỳ khưu ni ở tại đó.” Toàn bộ các phụ nữ đă làm y những lời Đức Phật truyền dạy, họ đă trẩy Sāvatthi cách đó 120 Yojaga và nhận được những lời khen ngợi và kính trọng từ những người địa phương. Cuối cùng th́ họ cũng đến được địa điểm cần đến và nhận được thụ phong theo giáo phái tỳ khưu ni và đă đạt đến bậc A-la-hán. Tuy nhiên. Đức Phật đă dẫn một ngàn tỳ khưu bay trên không đến khu rừng Kỳ Viên (Jeta) (đoạn tiếng Pali như sau: Satthāpi Bhikkhusahasssaṃ ādāya ākāsenava Jetavanaṃ agamāsi) Trong tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) c̣n có một số chi tiết các bài tường thuật về Trưởng lăo Mahākappina, nhưng chẳng có ǵ liên quan đến các phép lạ (thần thông) chúng tôi sẽ bàn đến lúc này. Mục tiêu của Trưởng lăo Buddhaghosa trong việc tường tŕnh chuyện kể này chính là kể lại một ví dụ được gọi là Phép lạ (thần thông) Tirobhāva tức là phép lạ (thần thông) ngăn không cho thấy người hay đồ vật mà thực tế có thể dễ dàng nh́n thấy rơ ràng và gần sát ngay bên. Như chính Đức Phật đă thực hiện trong trường hợp này. Tuy nhiên, trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) c̣n ghi lại một số khác biệt liên quan đến chuyện kể vừa đề cập đến ở trên như sau: V́ Đức Phật biết rơ nhà vua Kappina cùng với các vị cận thần đă quyết định “lên đường” và đang di chuyển đến gặp ngài đă tiến tới sông Candabhāga, là nơi Đức Phật đang ngồi thiền chờ họ dưới gốc cây đa bên bờ sông. Người ta cũng kể lại rằng ngài đă phải vượt một chặng đường dài 120 Yojana. Nhưng không cho biết ngài bay trên không hay đi bộ đến đó. Khi những người trên đă đến đó, ngài liền thuyết pháp cho họ một bài và sau bài giảng nhà vua đă đạt đến bậc Quả Bất Lai (anāgami), c̣n các vị cận thần cũng đă đạt đến bậc Đấng Dự Lưu (Sotapnna). Sau này, khi hoàng hậu Anojā đến được cùng địa điểm trên y như cách nhà vua và các vị cận thần đă phải vượt qua. Đức Phật đă thực hiện phép lạ (thần thông) dấu không cho nhà vua và các vị cận thần của ngài đang ngồi gần đó, khiến họ không thể nh́n thấy người nhà của ḿnh. Khi Hoàng hậu hỏi ngài có gặp hay không, Đức Phật hỏi lại họ một câu mang tính Phật pháp rất có lợi cho họ, nói rằng: Hoàng Hậu đi t́m Đức Phật hay t́m chính ḿnh vậy. Khi Hoàng hậu trả lời rằng Hậu chọn đi t́m chính ḿnh và ngồi xuống, Đức Phật đă thuyết pháp cho họ một bài giảng, nhờ đó hoàng hậu và một ngàn người đi tháp tùng đă đạt đến bậc Quả Nhập Lưu. Các vị cận thần của nhà vua sau khi nghe bài giảng đó cũng đă đạt đến bậc Quả Bất Lai. Trong khi đó chính nhà vua lại đạt đến bậc A-la-hán. Điều đó được mô tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga). Cũng cần lưu lư rằng trong tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) sau bài giảng cho họ, cả nhà vua và các vị cận thần đă đạt đến bậc Quả Nhập Lưu cùng một lúc. Chính sau này, khi họ được nghe bài giảng ấy lần thứ hai Đức Phật giảng giải cho hoàng hậu Anojā và đoàn tùy tùng th́ nhà vua cùng các vị cận thần đạt đến bậc A-la-hán. Nhưng theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), trước tiên nhà vua đă đạt đến bậc Quả Bất Lai, rồi sau đó là bậc A-la-hán, trong khi đó lúc đầu các vị cận thần của ngài chỉ đạt đến được bậc Quả Nhập Lưu, rồi sau đó mới đến bậc Quả Bất Lai. Không đả động ǵ đến Tứ đạt thông (fourfold Fluency Paṭisambhidā); cũng như việc Đức Phật dẫn toàn bộ các tỳ khưu bay trên không trở lại Rừng Kỳ Viên (Jeta Grove).
Một Phép lạ (thần thông) Khác Về Dấu Không Cho Nh́n Thấy
Chuyện kể này được thuật lại trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) như sau: Như đă mô tả ở trên, người thực hiện phép lạ (thần thông) này đă dấu không cho nh́n thấy cả những vật lẫn những người trước mặt, nhưng lại không tự dấu chính ḿnh được. Những ví dụ về loại phép lạ này phép lạ hiện diện tại hai nơi cùng một lúc (Twin Miracle), chính Đức Phật đă thực hiện trước sự chứng kiến của rất nhiều người. Tất cả đều nh́n thấy người thực hiện phép lạ (thần thông). Nhưng c̣n có một khía cạnh khác thuộc phép lạ (thần thông) này đó là: trong đó người khác cũng có thể chứng kiến chính phép lạ (thần thông), nhưng không nh́n thấy người thực hiện. Điều này giống với các phép lạ (thần thông) Āvibhāva Pāṭithāriya. Có một ví dụ kể về một vị trưởng lăo đă đạt đến bậc A-la-hán, tên là Mahaka và Vị Thiên Chủ Phạm Thiên tên là Baka. Tuy nhiên, các biến cố được kể lại trong đó lại rất ngắn gọn. Rất khó cho những ai chưa biết đến các vị đó. Bởi vậy cho nên tác giả kể lại chi tiết cả hai biến cố trích trong Kinh Pali (18 Saḷāyatanavagga trang 356 số 554 – 21 và Mūlapaṇṇāsaka trong Trung Bộ Kinh trang 590 số 551)
Chuyện Kể Về Trưởng lăo Mahaka
Một lần kia có rất đông các vị trưởng lăo trụ tŕ tại khu rừng Ambakata, gần rừng Macchikasaṇḍda. Vào thời đó có một người giàu có tên là Citta đă đến thăm các vị trưởng lăo, khi đă an vị đúng chỗ dành riêng cho ông, liền lên tiếng, “Trọng kính các chư vị trưởng lăo, các vị có thể đến dùng bữa tại trại ḅ của tôi vào ngày mai được không.” Các vị trưởng lăo đă nhận lời mời bằng cách giữ im lặng. Sau khi được biết và hiểu ra sự ưng thuận của họ, Citta đứng dậy ra khỏi chỗ ngồi và đi ṿng bên phải quanh họ, và rồi ông ra về. Vào buổi sáng hôm sau các chư vị tỳ khưu mặc y Cà Sa và lấy bát khất thực tiến lại trại ḅ và ngồi thiền ngay tại chỗ đă sửa sọan cho họ. Rồi người giàu có kia đă dâng cho họ món cơm trộn với một loại bơ lỏng hảo hạng do chính tay ông sửa soạn. Sau khi kết thúc bữa ăn các tỳ khưu rửa tay và cả bát khất thực rồi xếp bát khất thực vào vị trí bố thí rồi về trở lại rừng Ambakara. Citta ra lệnh cho các nô bộc và những người trong trại xử lư số đồ ăn c̣n dư lại. Trong khi đó chính ông đi tiễn các vị tỳ khưu. Lúc đó trời nóng oi ả ngột ngạt và các vị tỳ khưu mệt mỏi bước đi trên đường thân xác họ như bị co dúm lại (một thành ngữ ám chỉ thân thể họ giống như miếng khoai tây chiên hay một khoanh thịt nướng trên lửa đang bị teo lại) Trong số các tỳ khưu đó, có vị trẻ nhất (căn cứ vào tuổi nhận thọ giới), ông đă xin vị tỳ khưu niên trưởng trong nhóm, nói rằng, “Ôi thưa ngài trưởng lăo kinh mến, nếu như lúc này có một cơn gió lạnh và ánh mặt trời dịu xuống dăm ba độ, cùng với một cơn mưa phùn th́ hay biết mấy.” Vị trưởng lăo nói với tỳ khưu Mahaka, “Ôi! Thật tuyệt vời nếu được như vậy.” Khi vị trưởng lăo vừa dứt lời, thông qua sức mạnh thần thông của ḿnh, tỳ khưu Mahaka đă tạo ra một cơn gió lạnh. Cùng lúc đó ánh mặt trời dịu hẳn đi và có cơn mưa phùn bay lất phất. Các vị tỳ khưu giờ đây không c̣n phải đổ mồ hôi nhễ nhăi dưới sức nóng mặt trời như thiêu như đốt nữa. Được chứng kiến phép lạ (thần thông) nhăn tiền đó, người giàu có Citta tự nhủ, “Vị tỳ khưu này tuổi nhỏ mà tài cao; tuy vậy ngài đă có khả năng đáng kinh ngạc như vậy.” Sau khi các vị tỳ khưu đă quay trở lại khu Rừng, tỳ khưu Mahaka hỏi trưởng lăo niên trưởng trong đám các vị tỳ khưu. “Thưa ngài Trưởng lăo, làm như vậy đă đủ sức mạnh sáng tạo chưa?” Vị trưởng lăo lên tiếng, “Ôi Mahaka, quá đủ rồi, ngài đă thực hiện điều thật tuyệt vời.” Các vị tỳ khưu trở về pḥng riêng dành cho mỗi người, C̣n Citta người giàu có đă theo tỳ khưu Mahaka về pḥng riêng, sau khi đă an vị đúng chỗ, Citta yêu cầu tỳ khưu, nói rằng, “Xin Ngài Trưởng lăo chỉ cho tôi thấy sức mạnh thần thông của ngài.”
Tạo Ra Lửa
Tỳ khưu Mahaka nói với Citta, “Nếu ông ước ao được thấy điều đó, hăy để chiếc khăn choàng của ông xuống hành lang kia, rồi rải chút cỏ lên đó.” Citta làm y theo lệnh truyền, trong khi đó Mahaka đi vào trong sảnh đường, đóng cửa và cài then kỹ lưỡng, rồi thông qua sức mạnh thần thông, ngài đă tạo ra các lưỡi lửa phun ra từ lỗ ch́a khóa và các kẽ hở trên cửa. Ngọn lửa đă bắt cháy và thiêu rụi nắm cỏ khô một cách kỳ lạ, c̣n chiếc khăn choàng của Citta không hề hấn ǵ. Được chứng kiến phép lạ (thần thông) đó, Citta như bị choáng ngợp trong nỗi kinh ngạc sung sướng vô ngần, khiến tóc gáy ông dựng đứng lên. Ông nhặt chiếc khăn choàng lên, vẫn c̣n sót lại ít cỏ khô đă cháy gần hết, để chắc chắn là ḿnh chỉ không “nh́n thấy” mà thôi mà c̣n sờ mó nữa. Lúc đó vị trưởng lăo bước ra và hỏi ông, “ Ôi chủ gia nhân, hăy cho tôi biết phép thần thông như vậy đă đủ chưa?” Citta trả lời, “Dạ đủ rồi thưa ngài Trưởng lăo, ngài đă thực hiện một điều tuyệt vời. Mong rằng ngài được sung sướng sống tại khu rừng Ambakata này, gần bên khu rừng Macchikasaṇḍda. Về phần tôi, tôi sẽ chu cấp cho các vị y cà sa, của bố thí, chỗ ở và thuốc men.” Vị trưởng lăo trả lời “ Ôi Chủ Gia nhân, điều ông nói thật là tuyệt.” Rồi ngài trưởng lăo thu gom y cà sa, bát khất thực và rời khu rừng Macchikasaṇḍda, không bao giờ trở lại nữa. Đây là những ǵ được kể lại trong Kinh Pali về Trưởng lăo Mahaka. Ta cần lưu ư là tiết mục phép lạ (thần thông) cuối cùng của ông cũng gồm trong loạt những phép lạ (thần thông) được gọi là Tirobhāva (phép lạ (thần thông) gần) v́ ngài đă trở vào thiền viện hay chính xác hơn, vào trong sảnh đường trước khi tạo ra các lưỡi lửa lóe ra qua lỗ ổ khóa và các kẻ hở trên cửa, lúc đó ngọn lửa chỉ thiêu rụi một cách lỳ lạ dúm cỏ khô rải trên tấm khăn choàng, nhưng lại chừa khăn choàng không hề hấn ǵ. Toàn bộ khoảng thời gian đó vị trưởng lăo lại ở trong sảnh đường, cửa đóng kín và cài chốt khóa rất cẩn thận. Chủ Gia nhân không nh́n thấy vị trưởng lăo; những ǵ ông nh́n thấy chỉ là các lưỡi lửa phát ra để thiêu rụi nắm cỏ khô ở bên ngoài. Trong phép lạ (thần thông) này, người thực hiện không được nh́n thấy. Phép lạ này được gọi là Tirobhāva (gần với, hay là được ngụy trang) cũng c̣n được gọi với một tên khác nữa là Apākaṭapāṭithāriya, có nghĩa là phép lạ (thần thông) không thể nh́n thấy người thực hiện.
Đức Phật Cảm Thắng Phạm Thiên Baka
Một ví dụ khác nữa về phép lạ (thần thông) Tirobhāva (phép lạ (thần thông) xuất hiện ở một nơi xa lạ hay tự dấu ḿnh) do Trưởng lăo Buddhaghosa, tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), kể lại về trường hợp Đức Phật cảm thắng Phạm Thiên Baka. Nhưng chỉ được bàn căi một cách t́nh cờ và ngắn gọn khiến những độc giả trước kia chưa bao giờ nghe nói đến phép lạ (thần thông) này chắc chắn sẽ bỏ qua không chút quan tâm. Nhằm phục vụ quí độc giả chúng tôi xin trích dẫn ở đây với đầy đủ chi tiết về những bài tường thuật sau đây trích từ Kinh Pali. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần trích một đoạn kệ trong các trích đoạn “Bāhuṃ” (có nghĩa là những kẻ được chúc phước” có liên quan đặc biệt đến giai thoại này như sau:
Duggāhadiṭṭhi bhujagena sudatthahatthaṃ Vị Sa môn Ưu Việt (tức là Đức Phật) đă cảm hóa được vị Phạm Thiên tên là Baka, một nhân vật thực hiện được rất nhiều phép thần thông, nhưng lại theo tà kiến và đă coi ḿnh nổi tiếng với nhiều công đức đă được tà kiến. Ngài đă kiên định bám víu với những tà kiến đó (có nghĩa là tự lừa dối ḿnh), do vậy ngài được ví như một người đă bị măng xà vương cột chặt. Nói cách khác, ngài giống như một người nắm phải rắn độc, và bị rắn mổ vào tay vô tội vạ. Chính nhờ một bài thuyết pháp dẫn nhập đến tuệ giác, Đức Thế Tôn đă thuyết phục và cảm hóa được con người này. Mong rằng ngài được ban thưởng vinh quang chiến thắng nhờ những kệ chiến thắng này. Đây là một phần trong các đoạn Kinh Tụng gọi là Kinh Bāhuṃ, gồm có việc được chúc phúc nhờ ân huệ các việc thuyết phục và chiến thắng của Đức Phật trong cuộc sống của ngài. Đoạn này trích trong Kinh Pali (tác phẩm Mulapaṇṇāsaka thuộc Trung bộ Kinh, trang 290 số 551). Vào thời điểm nọ, Đức Phật đang lưu lại trong Khu Rừng Kỳ Viên (Jeta) do một nhà triệu phú tên là Anāthapiṇḍika dâng tặng cho Ngài, khu rừng tọa lạc gần thành phố Sāvatthi. Tại đây ngài kể lại câu chuyện sau đây cho các vị tỳ khưu. “ Các vị tỳ khưu thân mến, một dịp nọ, ta đang lưu lại dưới bóng cây cổ thụ Sila trong khu rừng Subhāga gần thành phố Ukkaṭṭha, lúc đó có một vị Phạm Thiên nọ tên là Baka, đang theo đuổi tà kiến cho rằng, “Cơi Phạm Thiên bất biến, bền vững, tồn tại vĩnh viễn và tuyệt đối, là nơi không c̣n “diệt” (cuti) mà cũng chẳng có “sanh”. Không c̣n tuổi già, cảnh chết, cảnh diệt và tái sinh nữa. Chính v́ chẳng tồn tại bất kỳ khởi đầu diệt khổ nào, thế nên chẳng t́m đâu ra nguồn cội khổ nơi cơi Phạm Thiên đó.” “Ôi chư vị tỳ khưu, vừa biết quan điểm sai lạc của vị Phạm Thiên này, ta đă lập tức rời khỏi bóng mát cây cổ thụ Sāla trong khu rừng Subhāga, và ngay sau đó thầy đă có mặt nơi cơi Phạm Thiên. Ta đă thực hiện điều này dễ dàng giống như một n | |