|
Nguyên
tác: Supra-Mundane, Psychic
Powers PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
PHÉP LẠ (THẦN THÔNG) BIẾN ĐỔI THÂN (Vikubbana iddhi)
Những ǵ đă được mô tả cho đến lúc này chỉ là những phép lạ (thần thông) thuộc loại quyết định Thần Thông (Adhiṭṭhāna iddhi) tức là những phép lạ (thần thông) được thực hiện thông qua lực (bala), trong đó có mười loại khác nhau như: biến nhiều người trở thành một người duy nhất. v.v… đi vào cơi Phạm Thiên hoặc với thân xác thô thiển hay bằng Hóa tâm thông, tất cả đă được bàn căi ở trên. Tuy nhiên, vẫn c̣n hai loại phép lạ (thần thông) nữa cũng được cho là chỉ đạt đến được thông qua lực (bala) đó là: phép lạ (thần thông) biến đổi thân (Vikubbana Iddhi) và Phép hóa tâm thông (Manomaya iddhi), tức tạo ra thân xác cơi trời từ bản chép sắc thn (tức là thân xác thô thiển) Tác phẩm Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) đă nói về phép biến đổi thân (Vikubbana Iddhi) như sau: “Một vị tỳ khưu đạt được khả năng thực hiện phép lạ (thần thông) này, sau khi đă loại bỏ h́nh thể tự nhiên (sắc pháp) của ḿnh có thể mặc lấy dáng thể của long vương (Naga) .. . . Thần Điểu (Garuda). (một loại chim thần). . .A-tu-la (Asura) một loại chư thiên khác nữa . . . Thần Indra (thần thuộc cơi thiên đường). . .một chúng sanh chư thiên. . . Phạm Thiên. . . một đại dương. . . một ngọn núi. . . một cánh rừng. . . một sư tử . . một chiếc xe hơi. . . một con hổ . . . con báo. . . con voi. . . một người lính bộ binh, một đạo quân nào đó.. Đây là những đoạn bằng tiếng Pali xác định những ǵ nói đến ở trên: “So pakativaṇṇaṃ vijahitvā kumāravaṇṇaṃ vā dasseti nāgavaṇṇam vā dasseti supaṇṇavaṇṇam vā dasseti asuravaṇṇaṃvā dasseti indavaṇṇaṃ vā dasseti devaṇṇaṃ vā daseti brahmavaṇṇaṃ vā dasseti samuddavaṇṇaṃ vā dasseti pabbatavaṇṇaṃ vā vanavaṇṇaṃ vā dasseti sīhavaṇṇaṃ vā dasseti byagghavaṇṇaṃ vā dasseti dīpivaṇṇaṃ vā dasseti hatthinpi dasseti assampi dasseti rathampi dasseti pattimpi dasseti vividhampi senabyūhaṃ dasseti ---trích trong Vô Ngại Giải Ḍạo (Patisambhidāmagga) thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddakanikāya) Đây chính là điều được mô tả trang Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidāmagga) nhưng lại không cho biết bằng cách nào đă thực hiện được điều đó. Tuy nhiên trong tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) những cách thức làm thể nào để thực hiện được điều này đă được mô tả như sau: “Một vị tỳ khưu đạt được phép thần thông này mà muốn biến đổi thân của ḿnh thành bất kỳ điều ǵ. Tỳ khưu phải rút vào nhập thiền Jhana, đó chính là cơ bản để thực hiện phép lạ (thần thông). Điều này có nghĩa là bất kỳ điều ǵ trong số mười Kasiṇa. Sau khi thoát khỏi thiền Jhana tỳ khưu được yêu cầu phải h́nh dung ra được h́nh dáng (sắc) lấy ví dụ một đứa trẻ vị tỳ khưu muốn biến thành. Rồi tỳ kheo c̣n phải trú vào nhập thiền ngay tức khắc, sau khi thoát khỏi thiền, tỳ khưu c̣n phải quyết tâm thực thiện lực (bala) nghĩ là. “mong rằng tôi có thể trở thành một chàng trai y hệt như h́nh dạng cậu bé này.” Đang khi quyết tâm theo hướng đó, tỳ kheo sẽ mặc lấy được h́nh dáng con người vị ấy muốn trở thành. Một ví dụ cụ thể có thể t́m thấy trong trường hợp tỳ khưu Devadatta. Ngài thường thực hiện phép lạ (thần thông) này trước sự hiện diện của nhà vua Ajātasattu. Lúc này, một số câu hỏi sẽ nổi lên liên quan đến sự biến đổi này. Sau khi có sự biến đổi như vậy xảy ra. Liệu h́nh dạng nguyên thuỷ vẫn c̣n tồn tại như trước hay không? thân xác đó sẽ không mất, hay chỉ có người khác không thể nh́n thấy điều biến đổi này?; hay là h́nh dạng nguyên thuỷ bị biến mất hoàn toàn với sự xuất hiện của một h́nh dạng mới? Câu trả lời cho những câu hỏi này có thể t́m thấy một phần ở trích đoạn Pali sau đây: “So pakativaṇṇaṃ vijahitvā kumaravaṇṇaṃ vā dasseti” v.v… Điều này có nghĩa là “Sau khi đă rời khỏi h́nh dáng nguyên thủy tỳ khưu sẽ khoác lấy cho ḿnh h́nh dạng một chàng thanh niên v.v… Đoạn trên h́nh như có nghĩa là sự kiện biến đổi này là trọn vẹn toàn diện và hoàn hảo với h́nh dạng nguyên thuỷ đă hoàn toàn biến mất. Tuy nhiên, vẫn c̣n bỏ ngỏ cho một cách giải thích khác nữa ngay cả cho những ai có thể hiểu được tiếng Pali. V́ rất có thể nên giải thích rằng từ “loại bỏ” (left), tiếng Pali viết là ‘vijahati’ có thể được hiểu là vật nguỵ trang của h́nh dáng nguyên thuỷ, đang khi tạo ra một h́nh dáng mới nguyên để cho người khác có thể nh́n thấy. V́ thế nếu hiểu theo nghĩa này th́ vẫn c̣n h́nh dáng nguyên thủy tồn tại như trước. Đối với những ai c̣n nghi kỵ kéo dài như vậy. Tôi xin được kể lại một đoạn trong trận thi thố tài thần thông giữa hai người là Trưởng Lăo Moggallana và Long vương Nandapananda đă được kể đến ở trên. Trưởng Lăo đă tự biến thành một Long vương khác và rồi lại biến thành cả chim Thần Điểu nữa. (Garuda). Chính Trưởng Lăo tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) cũng khẳng định quan điểm của ngài về hậu quả cho rằng sự biến đổi thân xác thành con voi và ngựa chẳng hạn hàm chứa sự kiện cho là những h́nh dạng đó được tạo ra bên ngoài vị tỳ khưu thực hiện phép lạ (thần thông) đó. Điều này hàm chứa sự thật là h́nh dạng nguyên thuỷ của vị tỳ khưu đó không trải qua một biến đổi như thế. Trong khi quyết tâm vị tỳ khưu đă không chủ tâm tự biến đổi ḿnh thành một con voi, nhưng chỉ hướng tâm tạo ra h́nh ảnh một con voi. Nói cách khác, ngài không làm điều ước, “Mong rằng tôi trở thành một con voi” mà điều ước của ngài lúc đó là, “Mong rằng xuất hiện h́nh ảnh một con voi.” Dưới đây là đoạn văn Pali khẳng định điều đó như sau: Hatthimpi dassetīti-ādi panettha bahiddhāpihatthi – ādidassanavasena vuttaṃ. Tattha’Hatthī homīti anadhiṭṭhahitva’ Hatthī hotūlī adhiṭṭhatabbaṃ. - Trṅch trong Thanh Tṇnh Ḍạo (Visuddhimagga) trang 2/247.) Tuy nhiên, cũng c̣n một giải thích nữa trong tác phẩm Paramatthamañjjusā như sau: phần đầu lời tuyên bố có từ ‘va’ (là ‘hoặc’) (nghĩa là kumāravaṇṇaṃ vā dasseti v,v…) nghĩa là sự biến đổi toàn diện mất luôn h́nh dạng nguyên trạng, nhưng ngược lại trong năm mục được nhắc đến sau này sự biến đổi đó có thể là toàn diện như trong những trường hợp kể đến ở trên, hoặc là (giống như một cách ngụy trang) cho những h́nh dạng mới được tạo thành trong khi đó h́nh dạng nguyên thủy của nó vẫn tồn tại. Lư do đưa ra là ‘ biến h́nh dạng nguyên thủy trở thành vô h́nh khiến người khác không thể nh́n thấy coi như là bỏ luôn h́nh dạng nguyên thủy. Không nhất thiết phải làm cho h́nh dạng nguyên thuỷ đó biến mất hoàn toàn hay trọn vẹn.”
PHÉP HÓA TÂM THÔNG (Manomayā Iddhi)
Như đă được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) tác giả cho rằng các phép biến đổi thân (VikubbanĀ Iddhi) và Ư Sinh Thân (ManomayĀ iddhi) được coi như thuộc cùng một loại do bởi sự kiện cả hai chỉ đạt đến được qua quyết định Thần Thông (Addhiṭṭhāna Iddhi) có nghĩa là nhờ vào quyết tâm, sự khác biệt là phép biến đổi thân (Vikubbanā Iddhi) là biến đổi thân xác nguyên thủy trở thành một thân xác khác với h́nh dạng và h́nh dáng thái khác nhau trước hoàn toàn; trong khi đó Phép Ư Sinh Thân (Manomayā iddhi) lại ám chỉ sự tác tạo thành một thân xác khác trong khi đó “bản sao chép” nguyên thuỷ vẫn tồn tại không thay đổi. Thân xác mới được tác tạo có thể nói giống y hệt với hành dạng nguyên thuỷ trong hầu hết các đặc tính cơ bản. Tuy nhiên sự khác biệt chỉ là đang khi thân xác nguyên thuỷ được cha mẹ sinh ra, c̣n thân xác mới được tạo thành thuộc h́nh dạng thân xác cơi trời (astral body), do tâm tạo thành và v́ thế có khả năng di chuyển nhanh không khác ǵ tâm – trong mọi t́nh huống. Thân xác đó người b́nh thường không thể nh́n thấy, chỉ có những người có thiên nhăn mới thấy mà thôi. Hơn nữa với sự sáng tạo ra thân xác cơi trời th́ phần đối tác thân xác sẽ trở thành một thân xác của người đang rơi nhanh vào cơn mộng hay giống như một bệnh nhân đang trong t́nh trạng hôn mê hay gần chết, có đôi khi c̣n ngừng thở nữa là đàng khác. Nhưng phép lạ (thần thông) tạo ra nhiều người từ một người như trong trường hợp Trưởng Lăo Cūlapanthaka được kể ở trên, hay Đức Phật thuyết pháp cho mẹ ngài nơi cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa) lại không được kể vào loại này, v́ thân xác nguyên thuỷ của Đức Phật và của Trưởng Lăo Cūlapanthaka không bị hề hấn ǵ. Thân xác của họ vẫn tiến hành làm những ǵ họ đang làm trước đó. Đức Phật với thân xác của ngài vẫn luôn tay thực hiện những sinh hoạt như là đi khất thực và tham gia vào bữa tiệc như thường. Chính v́ thế loại phép lạ (thần thông) này, không được xếp vào loại các phép lạ (thần thông) Phép Ư Sinh Thân (Manomayā iddhi hay thuộc loại phép lạ (thần thông) Manomayiddhi. Có điều lạ đáng cần lưu ư là. Trong mười loại Thần Túc Thông (Iddhividhi), Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) đă mô tả rơ ràng bằng cách nào chúng ta có thể thực hiện được các phép lạ (thần thông) này, ngoại trừ phép biến đổi thân (Vikubbanā Iddhi) và Phép Ư Sinh Thân (Manomayā iddhi) lại không được giải thích ǵ cả. Chính v́ thế cách thức luyện tập để thực hiện phép biến đổi thân xác (Vikubbanā Iddhi) như đă được mô tả trước đó lại do Trưởng Lăo tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) giải thích như sau: “Một tỳ khưu muốn tạo ra một thân xác tâm (ư sinh thân), sau khi đă thoát thiền Jhana như là nền tảng của phép Thần thông (Abhinnā), lại phải tập trung chú ư vào thân xác, rồi sau đó ra quyết tâm bằng những phương cách đă nói ở trên. Nói thầm trong tâm rằng, “Mong rằng thân xác này trở nên trống rỗng” khi thân xác đă biến thành trống rỗng; Chư vị tỳ khưu lại tập trung chú ư vào một thân xác khác với “bản chép” (counterpart) nguyên thủy và lại quyết tâm: “Mong rằng một thân xác khác có thể được h́nh thành trong thân xác này.” Sau đó ngài sẽ có thể kéo thân xác mới tạo thành đó ra khỏi thân xác nguyên thuỷ như rút cây gươm ra khỏi vỏ, hay một con rắn bị rút khỏi vũng nước bùn.Sau đây là các đoạn được trích trong Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga), “ Chư vị tỳ khưu trong tăng già này đă tạo ra một thân xác khác từ chính thân xác của ngài. Thân xác được tạo ra chính là Ư Sinh Thân, nhưng hoàn toàn gồm có tứ chi và các cơ quan khác. Với toàn bộ các giác quan đều hoạt động tốt. Giống hệt một con người được lôi ra từ bên trong đám bùn lầy lau sậy.” Ta có thể quan sát từ giải thích trên có một điều lạ lùng và không b́nh thường liên quan đến bước đầu tiên đ̣i hỏi phải có quyết tâm cao để biến thân xác nguyên thủy trở thành trống rỗng trước lúc quyết tâm tạo ra một thân thể cơi trời làm “bản sao.” Chính v́ thế điều này xảy ra khớp với những ǵ được tŕnh bầy trong Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) về hiệu quả là ngài (tức tỳ kheo) đă tạo ra một thân xác khác giống như rút ra từ trong đám bùn lầy lau sậy vậy.
Hiện Trạng Của “Thân Xác Cơi Trời” Ra Sao?
Một điều ai trong chúng ta cũng cho là kỳ lạ: đó là sự kiện không nhất thiết phải thực hiện quyết tâm biến đổi thân xác thành trống rỗng, như mọi người vẫn thường hiểu, “thân xác cơi trời” không tồn tại ở bất kỳ một nơi cố định nào trong thân xác như hai ṿng tṛn đồng tâm hay nằm trùng lên nhau. Không giống như điều bên trong “đám bùn lầy lau sậy” tồn tại bên trong đó, thân xác chỉ xuất hiện ra ngoài khi nào được lôi ra khỏi đó. Nhưng “thân xác cơi trời” không tồn tại bên trong thân xác của ta như vậy, nó được sinh ra một cách đột ngột. Ngay sau khi quyết tâm được thực hiện. Rất có thể, sau khi phân tích ta hiểu là “thân xác cơi trời” chỉ là một bản sao hay là một phó bản của thân xác . Một vị “đồng hành” nếu từ đồng hành có thể được dùng. Ta có thể thấy như trong trường hợp chụp một tấm h́nh. Bức ảnh được chụp không tồn tại trước đó, nó chỉ có xuất hiện ngay lúc người thợ chụp làm việc. Bức ảnh đó giống y như bản nguyên thủy, có nghĩa là người được chụp trong bức ảnh đó, v́ bức ảnh được dựa trên chính con người đó. Điều giống hệt đó cũng được nói đến trong việc tác tạo ra “thân xác cơi trời”, chỉ xuất hiện khi được tạo thành. Ở khía cạnh này các đoạn văn của Đức Phật tỏ ra dễ hiểu hơn khi ngài nói tới hiệu quả vị tỳ khưu với tâm được bảo đảm, không lay chuyển và hướng tới tạo ra một thân xác khác từ thân xác của ḿnh. Giống như một người được lôi ra từ trong đám bùn lầy lau sậy.
Làm quyết tâm thông qua tuệ giác (Ñāṇa)
Trong phạm vi mười phép thần thông (Iddhi Viddhi) liên quan. Có một đoạn thường hay được nhắc đến, đó là thực hiện quyết tâm thông qua trí hay tuệ giác. Theo nghĩa đen, điều này có nghĩa là thông qua trí hay tuệ giác. Một ví dụ có thể làm rơ việc giải thích phép lạ (thần thông) thứ nhất là tạo nhiều người hay nhiều thân xác từ một người hay một thân thể nguyên thủy. Như sau: “Vị tỳ khưu, sau khi đă hoàn tất tu luyện như đă dự liệu, hỗ trợ, đặt nền móng và căn bản cho các phép lạ (thần thông) xảy ra. Ngài liền trú vào nhập thiền làm bệ phóng để thực hiện các phép lạ (thần thông), rồi từ đó thoát ra, muốn nhân lên một trăm người từ chính thân xác của ḿnh. ngài sẽ tụng trong tâm của ḿnh như sau: “Sataṃ homi, sataṃ homi” Tôi muốn tự nhân lên một trăm người, tôi muốn tự nhân lên một trăm người.’ Rồi ngài trú vào nhập thiền Jhana như là một sức bật để thực hiện các phép lạ (thần thông). Sau khi đă thoát ra với tâm vẫn c̣n đang thực hiện quyết tâm, ngài liền biến thành một trăm người. Qui tŕnh này có thể được áp dụng cho việc tạo ra cả ngàn người hay c̣n hơn thế nữa. Tuy nhiên trong trường hợp không có ǵ xảy ra sau một qui tŕnh như vậy, ngài lại “tụng” một lần nữa. “Tôi muốn tự biến thành một trăm người khác” Rồi ngài lại trú vào nhập thiền Jhana và sau khi đă thoát thiền Jhana và thực hiện quyết tâm như trên. Qui tŕnh này lại được lặp lại nhiều lần cho đến khi phép lạ (thần thông) xảy ra đáp ứng với quyết tâm của ngài. Giải thích trên trích từ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) (2/122) trong khi đó Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) cũng có những đoạn tương tự (được dịch nguyên bản như sau: “Thường thường một vị tỳ khưu đạt được phép thần thông: trong lúc vẫn là một con người. Nếu ngài muốn nhân thành một trăm người, hay cả ngàn người hay một trăm ngàn người tuỳ theo ư ngài muốn. Sau khi đă làm những điều trên, ngài liền chú tâm quyết định qua trí tuệ giác hay do tài tháo vát (resourcefulness), “Tôi muốn được nhân lên thành nhiều người” thế rồi ngài sẽ được nhân lên thành nhiều, như trong trường hợp Trưởng Lăo Cūlapanthaka. Đoạn văn nguyên thuỷ bằng tiếng Pali dành cho những người nào muốn tham khảo như sau: “Pakatiyā eko bahukaṃ āvajjati sataṃ va sahassaṃ vā satasahassaṃ vā āvajjati āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti bahulo homītu bahuka hoti yathāyasamā cūlapanthako ekopi hutvā bahudhā hoti evameva so idhhimā cetovasippatto eko hutvā hoti, -- trích từ. . . . Từ Pali ‘āvajjati’ nghĩa đen là ‘nghĩ’ được Trưởng lăo tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) giải thích là “tụng”. Như vậy, tỳ khưu phải “Tụng” (trong tâm) số người ngài muốn nhân lên trở thành nguyên bản như là “Sataṃ homi, Satam homi”. Khi ngài muốn trở thành một trăm người. Sau khi đă “tụng” như vậy rồi, ngài liền rút vào nhập thiền Jhana như là một sức bật thực hiện các phép lạ (thần thông) có nghĩa là thiền Jhana bậc bốn. V́ nếu bậc thiền thấp hơn không thể thực hiện được mục tiêu này. Sau khi trú vào nhập thiền Jhana, ngài có thể nổi lên, hạ quyết tâm bằng cách sử dụng trí (Ñāṇa) hay tuệ giác, “Tôi sẽ muốn chính ḿnh được nhân lên một trăm lần” Ngay sau đó ngài sẽ lập tức được nhân thành một trăm người như ư ngài đă quyết tâm Câu, “Hạ quyết tâm nhờ trú (Ñāṇa) hay tuệ giác” trong đoạn tiếp theo sau đây: Ñāṇena adhiṭṭhātīti abhiññāñāṇavasena vutaṃ—(Vi. 2/ 219) Điều này có nghĩa là trí trong Phép Thần Thông (Abhinnā) có nghĩa là tuệ giác hay ra tài tháo vát (resourcefulness) có liên quan để việc áp dụng vào các phép thần thông. Một vị tỳ khưu coi như đạt được trí yêu cầu phải trang bị với năm điều Vasi hay là thuần thục trong thiền bậc bốn. Điều này ngụ ư muốn nói lên sự thật là: một con người như vậy phải có khả năng nắm rơ thiền Jhana là ǵ, tâm của người đó ra sao vào thời điểm này, đâu là đặc điểm của tâm được cơ động và linh hoạt đủ để có thể đáp ứng được với quyết tâm được thực hiện và thực hiện bằng cách nào để thực hiện được phép lạ (thần thông) này hay phép lạ (thần thông) kia. Điều tiếp theo là không phải hết mọi người trong điều kiện Thiền Jhana có thể thực hiện được quyết tâm và có được tâm đáp ứng đủ ư muốn của người đó. Thiếu năm khả năng thuần thục và trí được nói đến ở trên, một quyết tâm không thể có ư vọng tạo ra được kết quả như mong muốn ví một cuộc hành thiền chưa đáp ứng đủ tiểu chuẩn hay mức cường độ cần thiết cho cuộc thực hiện như vậy, đó là ư nghĩa của câu: “Thực hiện quyết tâm thông qua “Ñāṇa” có nghĩa là tuệ giác hay là tài tháo vát (resourcefulness) trong ‘nghệ thuật và khoa học’ có thể nói như vậy, trong việc thực hiện các phép lạ (thần thông) cũng như vậy mà thôi. C̣n nhiều chi tiết nữa liên quan đến đề tài này rất cần được lưu ư như chúng tôi ghi lại dưới đây: “Đang khi thực hiện quyết tâm, th́ tâm đang trong hiện trạng Thiền Jhena dùng làm sức bật cho các phép lạ (thần thông) đang trong hiện trạng Nimitta, nghĩa là tầm nh́n hay h́nh ảnh tâm , trong khi đó tâm đang “tụng kinh” lại suy nghĩ đến các con số, cho dù là một trăm hay một ngàn, tâm muốn biến thành. . .” - - (Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) 2/219) Điều này có nghĩa là một người có thể thực hiện quyết tâm, yêu cầu trước tiên là có khả năng trú vào nhập thiền bậc bốn. Dựa trên những Kasina (cơ bản) để đạt đến những thiền chứng có được. Hơn nữa, người đó cũng đă kinh qua tất cả các loại cơ bản (Kasiṇa).H́nh ảnh tâm thiền chứng trong mức thiền Paṭithāga thuộc bậc thiền cao nhất trong các loại cơ bản (Kasiṇa) trong những sát na nhập thiền Jhana đó được gọi là ‘nimitta’ như đă được đề cập đến ở trên. Chính v́ thế đối với một người thực hiện phép lạ (thần thông) từ khả năng của ḿnh có nghĩa là mức độ hay cuờng độ các thiền chứng của ḿnh trước khi thực hiện phép lạ (thần thông) là điều tiên quyết nhất. Cho đến khi người đó chắc chắn là khả năng ư muốn của ḿnh có đủ sức để tin tưởng như vậy. Đến lúc này, một điều cần lưu ư là trong lúc “tụng” thiền bậc bốn (ngay cả chỉ trong thâm tâm thôi) đều không thể thực hiện được nếu thiếu Vitakka hay Vicara (nghĩa là tầm và tứ) trong giai đoạn tột đỉnh này. Chính v́ thể điều cần thiết là thoát ra khỏi thiền bậc bốn, đi ngược lại về thiền Jhana bậc một, trong đó việc tụng (trong suy nghĩ) tức là Parikamma) là điều có thể diễn ra. Chính v́ thế người ta kể lại rằng tâm trong suốt lúc tụng th́ an vị ở nơi số người mà người đó quyết tâm tạo ra, cho dù là một trăm hay một ngàn đi chăng nữa. “Thực hiện quyết tâm nhờ trí ñāṇa.” Từ “Ñāṇa”, như đă được giải thích, có giới hạn hay ư nghĩa nhất định, liên quan đến điều được gọi là ‘Thần thông (Abhiññā) Ñāṇa hay là quyết định trí (Adhiṭṭhāna Ñāṇa). Có nghĩa là trí (Ñāṇa) đối với việc thực hiện các phép lạ (thần thông) hay là trí (Ñāṇa) nhờ đó ta hạ quyết tâm một cách tương xứng. Việc giải thích này được rút ra từ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đoạn hai trang 219. Tóm lại, người ta cho là có mười loại phép lạ (thần thông) cộng với phép biến đổi thân (Vikubbanā Iddhi) và Phép Ư Sinh Thân (Manomaya iddhi) là những điều có thể đạt đến được thông qua quyết định (Addhitthana) chính xác hơn là thông qua trí (Adhiṭṭhāna Ñāṇa), có nghĩa là Quyết Tâm Thiền Quán (tức tài tháo vát (resourcefulness), hay là lợi khẩu nếu bạn muốn. Không chỉ có hành động thực hiện quyết tâm đơn thuần do bất kỳ ai muốn thực hiện phép lạ (thần thông), nếu mức độ lợi khẩu và kinh nghiệm không hỗ trợ người đó đầy đủ th́ không hy vọng có thể thực hiện được phép lạ (thần thông).
Phẩm Chất không thể thiếu một người làm phép lạ (thần thông) cần phải đạt được
Những phẩm chất này vạch ra những yêu cầu không thể bác bỏ được sau đây được trích từ những lời dạy của Đức Phật ở nhiều nơi khác nhau, trong đó việc áp dụng khả năng ư muốn hướng về định hướng có liên quan. Chính v́ thế mà ngài cho biết (như trích trong kinh phật Sāmaññaphala như sau). “Một vị tỳ khưu với tuệ tâm ổn định, được thanh tịnh đầy đủ, toả sáng, trừ tuyệt khỏi mọi tham dục đang ŕnh rập, không can dự vào những phiền năo, do đó đă trở nên dễ dạy, và linh hoạt, cơ đông, tiện dụng, tồn tại một cách vững vàng hướng tới thực hiện những phép lạ (thần thông), thế rố ngài có thể đạt được những thành công liên quan đến việc bầy tỏ phép thần thông như tạo ra nhiều người từ một người...” Ta cũng cần lưu ư ở đây là, ngay cả khi ta có thể thực hiện được nhớ lại tiền kiếp, có khả năng thiên nhăn, khả năng tạo Ư Sinh Thân, và biến đổi thân, th́ các đoạn trên cũng được sử dụng. Điều này có nghĩa là đầu tiên phải đáp ứng được những đ̣i hỏi không thể thiếu đó là đạt đến Thiền Bậc bốn, được bổ sung với năng khiếu thuần thục hay và Vasi. Với một nền tảng thiền định như vậy, th́ hướng tâm về thực hiện bất kỳ phép lạ (thần thông) nào đều hy vọng có thể đạt được với nhiều kết quả khả quan. Các đoạn Pali trích chính những lời Đức Phật dạy được nói đến ở trên, dành cho những ai muốn đào sâu một cách cặn kẽ hơn như sau: “So evaṃ samahitacitte parisuddhe pariyodāte anañgane vigatūpakilese mudubhūte kammaniyethite aneñjappatte iddhividhāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti. So anekavihitaṃ paccanubhoti; ekopi hutvā hoti v.v… Các đoạn Pali li trên được trích từ Kinh Pali 9/13; cũng trích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) 2/204, trong đó ta thấy có lời giải thích như sau: ‘So’ có nghĩa là “Vị tỳ khưu đó” ám chỉ vị tỳ khưu đă đạt đến thiền Jhana bậc bốn (Soti so adhigatacatutthajjhāno yogī) Samahite citte: Tâm được nhập thiền Jhana bậc bốn nghiêm túc (Samāhite citte iminā catutthajjhāna samādhinā samāhite). Từ ‘citta’ có nghĩa là tâm trong cơi thanh tịnh thuộc thiền Jhana cùng với Sắc (Citteti rūpāvacaracitte) Parisuddhe có nghĩa là niệm được thanh tịnh thông qua xả (Upekkhā)(Parisudddhetupekkhāsatiparisuddhibhavena parisuddhe) “Pariyodāte” có nghĩa là toả sáng hay sáng chói thông qua tính tinh khiết của tâm (Parisuddhatāyea pariodāte pabhassati vuttaṃ hoti) “Anañgane”, nghĩa đen là không bị tham dục giống như một mô đất’; điều này ám chỉ đến điều kiện không bị vướng mắc phải những đam mê như tham dục (raga). Điều này là v́ những ảnh hưởng dẫn đến tham dục như Sukha (có thể do hạnh phúc là một mức độ hạnh phúc đem lại.) đă được chế ngự (trong các bậc thiền Jhana bước một, hai và ba.) (Sukhādīnam paccayānaṃ ghātena vihatarāgādiañgaṇattā anañgane) Liên quan đến điểm này cũng đă được giải thích xa hơn trong tập chú giải Paramatthamañjusā cho là lạc về thân (sukha) lạc dẫn đến hỷ (somanassa) mà hỷ dẫn đến tham (Rāga). Rồi khổ thân (dukkha) dẫn đến ưu (domanassa) mà ưu dẫn đến sân hận (dosa). Từ những phần giải thích thêm như trên, ta có thể đi đến kết luận rằng: từ “những ảnh hưởng xúi bẩy hay những đam mê không chỉ ám chỉ tới loại tham dục (raga) có nghĩa là những đam mê tham dục mà thôi, nhưng c̣n dẫn đến loại đau khổ nữa có nghĩa là những loại đau khổ do sân hận mà ra. Vigatūpakilese: không có những phiền năo. Đây là một thực tế mà kết quả tất yếu là thiếu vắng những ảnh hưởng súi bảy như đă được đề cập đến ở trên. Thường th́ tâm bị nhơ bẩn do sự xuất hiện những ảnh hưởng sui bảy (Anañganattayeva vigatūpa-kilese…añgañena hi cittaṃ upakilissati) Mudhbhute: có nghĩa là dễ sai khiến hay tuân thủ theo như ư muốn. Điều này có được là nhờ t́nh trạng tâm được huấn luyện tốt. Chính v́ thế tâm không tỏ ra bướng bỉnh nhưng rất dễ dạy (subhavitattā mudubhūte vasīhāvappateti vuttaṃ hoti… vase vattamanaṃ hi cittaṃ mudutanti vuccati) Kammanīye: nghĩa đen là “Thích hợp để làm việc’ hàm chứa điều kiện trở nên cơ động, linh động, tiện dụng có nghĩa là tuân thủ theo ư muốn và quyết tâm của đương sự. Đây là kết quả chúng sanh đó đă trở nên ngoan ngoăn, dễ dạy. Điều này được so sánh với “vàng được thổi tốt từ phía dưới (có nghĩa là được chất trong ḷ luyện và được thổi bằng những ống bễ để tăng thêm độ nóng và tách được các cứt sắt ra khỏi vàng ṛng). (Muduttāyeva kammaīiye kammakkhame kammayoggeti vuttaṃ hoti. Muduṃ hi cittaṃ kammanīyaṃ, hoti subhantamiva suvaññaṃ). Chính v́ vậy Đức Phật đă phán, “ Đây là điều ta đă nghiên cứu, nhưng không bao giờ ta thấy bất cứ điều ǵ đang phát triển và được tăng cường. Được linh động và dạy như tâm này.” Nānaṃ Bhikkhave aññaṃ ekadhammampi samanupassāmi yaṃ evaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ muduñca hoti kammaūiyañca yathayidaṃ bhikkhavae cittanti. – trích trong Ekanipāta thuộc Tăng chi Bộ Kinh (Añguttaranikaya 20/21.) Ṭhiṭhe, nghĩa đen là tồn tại. Ám chỉ tâm tồn tại hay cư ngụ một cách an toàn trong điều kiện như vậy như tâm hồn được thanh tịnh và sáng chói (Etesu parisuddhabhavadisuthitatta ṭhiṭe) nói cách khác, điều này ám chỉ một thực tế là tâm được thiết lập trong chính khả năng của nó. V́ hiện nay đă trở nên dễ dạy và linh động (Mudukammaññabhāvena vā attano vase ṭhitattā ṭhite) Āneñjappatte: đă đạt đến được điều kiện không lay chuyển. Điều này tiếp theo là một kết quả thuộc những đặc tính đă kể ra ở trên (ṭhitattāyeva āneñjappatte acale niriñjaneti vuttaṃ hoti) nói cách khác, có thể được giải thích như sau: a. Tâm ổn định trong niềm tin sẽ không bị xáo trộn bằng cách làm cho lung lay v́ thiếu niềm tin. b. Một khi tâm ổn định trong nỗ lực không bị xáo trộn do t́nh trạng bơ phờ v́ lười biếng mà ra (Viriyapariggahitaṃ kasajjjena na iñjati) c. Một khi tâm ổn định trong niệm (mindfulness) sẽ không bị xáo trộn do bởi quá cả tin (Satipariggahitaṃ pamādena na iñjati) d. Một khi tâm ổn định trong hành thiền sẽ không c̣n bị xáo trộn do phải phân tâm (samādhipariggahitaṃ uddhaccena na iñjati) e. Một khi tâm ổn định trong tuệ không bị xáo trộn do vô minh ngu dốt (Paññapariggahitaṃ avijjāya na iñjati) f. Một tâm toả sáng sẽ không bị xáo trộn do bóng tối những vẩn đục đem lại (Obhāsagataṃ kilesandhākārena na iñjati) Chính v́ tâm được ổn định với sáu đặc tính nêu trên mà đă đạt được điều kiện không thể lay chuyển nổi (Imehi chahi dhammehi pariggahitaṃ āneñjappattaṃ hoti) Tóm Lại. tâm đạt được tám phẩm chất được đề cập đến ở trên là tâm được hướng tới thực hiện, thông qua trí. Trí Phật Pháp có thể thực hiện được qua trí thần thông, nghĩa là Phép Thần thông vậy (Abhiññā) evaṃ atthañga-samannāgataṃ cittaṃ abhinīhārakkhamaṃ hoti abhiññāsacchikarrānīyānaṃ dhammānaṃ abhiññāsaccha-kirriyāya. -- Trích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) 2/ 205). Tám phẩm chất đề cập đến ở trên là: 1. Samāhite: được thiết lập nhập thiền Jhana bậc bốn; 2. Parisuddhe: được thanh tịnh; 3. Pariyodate: được toả sáng; 4. Añangaṇe: không bị vướng mắc do những ảnh hưởng xúi bảy; 5. Vigatūpakilese: đoạn diệt những phiền năo; 6. Mudubhūte: tuân thục và dễ dạy; 7. Kammanīye: Linh hoạt, cơ đồng và tiện dụng 8. Ṭhite āneñjappatte: tồn tại mà không bị rung động hay không bối rối – thông qua cách đạt đến được bảy phẩm chất đă bàn đến ở trên. Trong khi tám phẩm chất kể trên là những phẩm chất cần thiết cho những ai có thể thực hiện được các phép thần thông, chúng chỉ là kết quả phải được đạt đến vào giai đoạn chót. Hệ thống để luyện tập tâm hầu đạt đến thành tích đó được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) 2/200 như sau: “Một hành gi? Yogi mới tập sự hay một thiền sinh muốn bắt tay vào nhiệm vụ to lớn này trước tiên phải đạt đến tám thiền chứng (samāpatti), thuộc tám loại căn bản (Kasiṇa). Rồi ngài cũng c̣n phải yêu cầu theo đuổi một qui tŕnh gồm mười bốn bước cho đến khi được thuần thục hoàn toàn trong qui tŕnh mười bốn điểm này. mười bốn bước đó gồm:” 1. Kasinānulomato: trú nhập thiền Jhana với mười điều cơ bản (Kasiṇa)thuận từng điều một. 2. Kasināpaṭilomato: trú nhập thiền Jhana thuộc mười điều cơ bản (Kasiṇa) trong qui tŕnh ngược lại. 3. Kasinānulomatopaṇilomato:Trú nhập thiền Jhana thuộc mười điều cơ bản (Kasiṇa) đó trong cả qui tŕnh thuận lẫn ngược lại 4. Jhānānulomato: Trú nhập các mức thiền Jhana thuận từng loại một. 5. Jhānapaṭilomato: Trú nhập nghịch các mức thiền Jhana 6. Jhānānulomapaṭilomato: Trú nhập thiền Jhana thuộc nhiều loại khác nhau trong cả qui tŕnh thuận lẫn qui tŕnh ngược lại. 7. Jhānukkantakato: rút vào một số mức thiền Jhana đa dạng thuộc một điều cơ bản (Kasina) bằng cách bỏ qua phương pháp, bỏ qua mỗi thiền khác trong qui tŕnh đó. 8. Kasiṇukkantakato: Trú nhập một số bậc thiền Jhana bằng cách bỏ qua phương pháp, lần này th́ bỏ luôn tất cả mọi điều cơ bản(Kasiṇa) trong qui tŕnh này. 9. Jhānakasiṇukkantakato: Trú nhập thiền bằng cách bỏ qua một số phương pháp, bỏ qua cả các bậc thiền Jhana và các lọai Kasiṇa. 10. Añgasañkantito: bỏ qua (có nghĩa là rút lại) những chi thiền Jhana. 11. Ārammaṇasañkanito: Bỏ qua đề mục của một số loại thiền Jhana. 12. Añagārammaṇasañkantito: Bỏ qua cả những chi thiền Jhana lẫn các đề mục của chúng. 13. Añgavavaṭṭhāpanato: Xác định các chi thiền Jhana. 14. Ārammaṇavavaṭṭhāpanato: Xác định các đề mục Jhana/.
|
|