NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 

                                                               Nguyên tác: Supra-Mundane, Psychic Powers
                                                
 Tác giả:       Phorn Ratanasuwan
                                               
  Dịch giả:     Tỳ khưu Thiện Minh

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10. Kāyena Vasavattana Pāṭihāriya - (Phép lạ - thần thông - lên cơi Phạm Thiên bằng thân xác thô thiển hay bằng thân xác cơi trời)

 

Đây là đoạn văn ghi lại chính lời Đức Phật liên quan đến phép lạ (thần thông) này.

“Yāva Brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti.”

Một vị tỳ khưu đạt được sức mạnh thần thông có thể nhập cơi Phạm thiên với chính thân xác phàm (thô thiển) của ḿnh.

Ư nghĩa này được ám những lời Đức Phật có thể được xác định, theo Trưởng Lăo Sārīputta giải thích trong Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidamagga (31/594) như sau:

Một vị tỳ khưu đạt được phép thần thông và Cetovasi, có nghĩa là sức mạnh thiền thục tâm có thể khiến những nơi xa xôi trở thành gần lại. Ngài cũng có thể đảo ngược lại qui tŕnh đó, khiến cho những chỗ gần có thể biến ra xa theo ư muốn. Điều này kể cả khả năng biến một vật trở nên nhiều và biến nhiều vật trở thành ít hay ngược lại. Ngoài ra, ngài c̣n có thể thông qua phép nhăn thông và phép nhĩ thông để nh́n thấy chúng sanh nơi cơi Phạm Thiên và nghe được cả tiếng nói của họ nữa, ngay cả tư tưởng của người đó ngài cũng đọc được bằng phép “tha tâm thông” có nghĩa là đọc được tư tưởng của người khác đang suy nghĩ.

Lúc này, bất kỳ ai muốn đi vào cơi Phạm Thiên, qua thân xác hữu h́nh của ḿnh. Người đó chỉ cần hướng tâm trí đến bản chất thân xác (Kāyavasena cittaṃ pariṇāmeti) thực hiện quyết tâm để ḥa trộn tâm vào với bản chất của thân xác (kāyavasena cittaṃ adhiṭṭhāti). Rồi trú vào lạc tưởng (Sukhasañña) nơi tinh thần phấn chấn (Lahusañña). Rồi đi vào cơi Phạm Thiên thông qua thân xác siêu h́nh của ḿnh.

(Nhập cơi Phạm Thiên theo cách thức vừa kể trên) Chư vị Tỳ khưu sẽ tạo ra cho ḿnh Ư Sinh thân (mind-made-form) có nghĩa là thân xác không thể nh́n thấy được, hay c̣n gọi là thân xác siêu h́nh thân xác này hoàn toàn giống như thân xác hữu h́nh, cũng gồm có tứ chi và các cơ quan (như chân, tay, dùi….) cùng với các giác quan được vận hành nghiêm chỉnh (có nghĩa là mắt, tai v.v… những giác quan này đều hoạt động chứ không bất động hay không có sự sống (không chậm chạp) thân xác vô h́nh này lúc nào cũng có thể xuất hiện ngay trước chúng sanh nơi cơi Phạm Thiên. Nếu chư vị tỳ khưu trên cơi đời này đang thực hiện hành thiền bách bộ. Hay hóa thân (replica) của tỳ khưu cũng vẫn thực hiện được y hệt những ǵ trên cơi Phạm Thiên. Điều này cũng tương tự như vậy đối với các điệu bộ khác nơi cử điệu của thân xác cho dù là người đó đang ở tư thế đứng hay trong tư thế nằm. Ngay cả trong các hành động khác với các tư thế thân xác cũng hoàn toàn ăn khớp với nhau. Thí dụ như khi tỳ khưu phun ra khói hay lửa hoặc thuyết pháp hay hỏi và thưa bất kỳ câu hỏi nào th́ “cả hai” thân xác của ngài đều thực hiện cùng một hành động như vậy ở cả hai nơi khác nhau. Trong trường hợp tỳ khưu đang đứng thuyết pháp cho chúng sanh nơi cơi trần gian này, th́ tại cơi Phạm Thiên tỳ khưu cũng làm được y như vậy. Như vậy “cả hai” thân xác và hóa thân cùng có những hành vi y hệt như nhau, tuy ở hai cơi khác nhau. Đây là những ví dụ cho thấy bằng cách nào cả hai thân xác (Hóa thân) ở hai nơi có liên quan với nhau.

Những đoạn văn ở trên do trưởng lăo tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) trích trong Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga), Thí Dụ Kinh (Apadāna) – 31/594), đều là những lời dạy của Trưởng Lăo Xá-lợi Phất (Sārīputta). Tuy nhiên có một điểm thật khó hiểu. Đó là đoạn cuối cùng khẳng định rằng trong trường hợp tỳ khưu đứng nói với chúng sanh nơi cơi Phạm Thiên. Hóa thân của ngài ở dưới thế cũng sẽ thực hiện cùng một việc như thế, có nghĩa là ngài sẽ nói với các chúng sanh khác cũng ở trên cơi đời này. Đoạn văn Pali viết như sau: Sace so iddhimā tena brahmunā saddhiṃ santiṭṭhati sallapati sākacchaṃ samāpajjati, minnmitopi thattha tena brahamunā saddhiṃ satiṭṭhati sallapati sākacchaṃ samājjati yaṃ yadeva hi so iddhimā karoti taṃ tadeva nimmito karoti.

Ở điểm này có thể tạo ra nghi ngờ chính là lời tuyên bố về hậu quả cho rằng vị tỳ khưu đó, đang khi c̣n sống trên cơi đời này, lại có thể đứng trước chúng sanh Phạm Thiên và đàm đạo được với họ. Rất có thể là Đấng Phạm Thiên không những có thể đàm đạo với cùng một nhân vật cả ở trên cơi đời này lẫn ở trên cơi Phạm Thiên nữa. Liệu có nhất thiết chỉ là Chúng sanh duy nhất hay cần phải tạo ra một thân khác để xuất hiện trước chúng sanh Phạm Thiên? [4] Điều rất tiếc là không có lời giải thích nào khả dĩ được thực hiện để làm sáng tỏ điểm này. Chính v́ thế mà câu hỏi vẫn bỏ ngỏ chưa có kết luận dứt khoát xem đấng Phạm Thiên có đàm đạo với chính là chúng sanh đó hay chỉ là một “Bản Sao” của nhân vật đó mà thôi. Hay có thể chỉ là một ví dụ điển h́nh cho thấy khung cảnh đó đă phải được “sao chụp lại” có thể nói như vậy, và chỉ là bản sao của bất kỳ sự kiện nào đă diễn ra trên cơi đời này.

Việc mô tả trên cũng đáng quan tâm. H́nh như đă đả động đến khái niệm nhập thể Phạm Thiên Thuyết (Brahmanism of Incarnation): chúng sanh siêu nhiên mặc lấy h́nh dáng con người, không bị giới hạn ở bất kỳ số lượng nào. Chính v́ thế mà chúng sanh siêu nhiên khi tái đầu thai nơi thân xác con người có thể khoác lấy cả thân xác hữu h́nh, hay thân thể cơi trời cũng vẫn được như thường. Rất có thể cả trăm hay cả ngàn thân xác không chừng. cũng chẳng ảnh hưởng ǵ đến thân xác siêu nhiên đó. Thân xác siêu nhiên đó luôn cư trú tại cơi thần tiên. Đây là một kiểu song hành, nhưng nhất thiết không phải một thân xác tương đương. Ta t́m thấy trong Phật giáo có trường hợp Hoà Thượng A-la-hán Cūlapanthaka. Như đă được nhắc đến ở tập một phần một. Trong trường hợp này, Ư Sinh Thân của trưởng lăo lệ thuộc hoàn toàn vào “bản sao” của ngài trên cơi đời này. Điều này khác với trường hợp Avatāra hay là nhập thể siêu nhiên thuộc Phạm Thiên thuyết.- lại phải lệ thuộc vào thân xác vô h́nh, thần tiên thuộc cơi thần tiên hay cơi Phạm Thiên. Trong trường hợp Cūlapanthaka, các Ư Sinh Thân được tác thành để hiện hữu tạm thời mà thôi. Như vậy, theo quan điểm Phật giáo sau khi Đức Phật Tương Lai đă tái sanh trên cơi đời này làm con trai hoàng hậu Māyā, th́ sẽ không c̣n “bản sao chép” của ngài trên cơi Phạm Thiên (hay thiên đàng) nữa. Chính v́ thế đây là điều căn bản, là điểm khác cơ bản giữa Phật giáo và Phạm Thiên Thuyết (Brahmanism). Rất có thể có hai khía cạnh tồn tại một vài điểm giống nhau. Tuy nhiên vẫn luôn có sự khác biệt căn bản rơ ràng như một biên độ vĩnh viễn nêu trên.

 

Bằng cách nào có thể biến một nơi xa thành gần Và một nơi gần lại biến thành xa

 

Theo Trưởng Lăo Buddhaghosa, một vị tỳ khưu đạt được các khả năng thần thông có thể nhập thiền Jhana, đây chính là bàn đạp để thực hiện mọi phép lạ (thần thông). Rồi ngài phải xác định cơi Thiên Đàng hay cơi Phạm Thiên, rồi quyết tâm để cho điều đó biến thành gần. Sau khi thực hiện được điều này, ngài phải ngay lập tức trú thiền Jhana trở lại, rồi lại thực hiện quyết tâm thông qua sức mạnh trí (ñāṇa) ước mong được đến gần hơn và những ǵ ngài muốn tức khắc sẽ xuất hiện.

 Một ví dụ đă được nêu ở trên trong trường hợp Đức Phật thực hiện Phép song thông. Trước khi tiến hành điều đó, ngài đă nhập vào cơi Thiên Đàng thông qua quyết tâm của ngài, mong muốn hai rặng núi Yugandhara và Sineru tiến lại gần ngài. Rồi khi ngài vẫn c̣n đứng đó. Ngài đă đặt chân lên đỉnh núi Yugandhara c̣n chân kia lại đặt lên đỉnh núi Sineru.

Ví dụ thứ hai là trường hợp Trưởng lăo Moggallāna khi c̣n lưu lại thành phố Sāvatthī, ngài tỏ ḷng ước muốn được đưa đến với đám đông những người từ Sāvatthī đến thị trấn Saṇkassa, cách xa khoảng độ ba mươi do tuần (Yojana). Ngài cũng đă thực hiện phép thần thông, rút ngắn khoảng cách giữa hai nơi lại như Đức Phật đă làm.

Trường hợp thứ ba được kể về Trưởng Lăo tên là Culasambudda người Sri Lanka. Người đă di chuyển bảy trăm tỳ kheo để có thể cung cấp của bố thí cho họ tại thị trấn tên là Pāṭalipuitta tại Ấn Độ, nghĩa là về phía bên kia bờ Đại Dương chia cách hai quốc gia. Tuy nhiên Thị trấn Pāṭalipuitta lại toạ lạc trên một ḥn đảo, chứ không nằm trong đất liền. Ấy vậy mà ngài có thể chuyên đám người đông đảo đến như vậy chỉ trong ṿng một thời gian ngắn đến địa điểm ấn định.

Xét khía cạnh ngược lại, có nghĩa là biến nơi gần lại trải dài ra và trở thành một nơi rất xa, một ví dụ được Đức Phật thực hiện trong đoạn giai thoại ngài bước đi một cách b́nh thường trước tên cướp dây chuyền Nagulimāla khiến cho tên cướp phải chạy thụt hơi, vẫn không thể chạy theo kịp Ngài.

 

Giải thích việc chiêm ngưỡng một chúng sanh Phạm Thiên bằng Thiên Nhăn Thông

 

Ở đây được giải thích về hậu quả cho là vị tỳ khưu đạt được phép thần thông như vậy, đang khi c̣n ở trên cơi đời này, có khả năng trú vào Thiền Jhana dựa trên sự trống rỗng có nghĩa là không gian kasiṇa. Rồi vị này sẽ có khả năng nh́n thấy h́nh dạng của một vị Phạm Thiên nơi cơi Phạm thiên, rồi nghe được bất kỳ điều ǵ vị Phạm Thiên đó nói, và cuối cùng biết được bất kỳ điều ǵ vị Phạm Thiên này suy nghĩ.

 

Giải thích về việc hướng tâm tới bản chất tự nhiên của thân xác

 

Câu ‘hướng tâm tới bản chất của thân xác ” được dịch từ câu tiếng Pali sau Kāyavasena cittaṃ pariṇāmeti’. được giải thích là việc ứng dụng tâm vào bậc thiền Jhana (đây là điều căn bản hay là nguồn mọi khả năng thần thông.) để thâm nhập vào thân xác, như vậy làm chậm lại vận tốc của tâm, khiến thân xác bắt kịp với tâm và khiến cho tâm chiếm lănh được bản chất của thân xác (thường mang đặc tính cồng kềnh và nặng nề)

 Tuy nhiên những đoạn trên đây đă được đơn giản hoá, vậy mà vẫn c̣n khó hiểu. Một ư tưởng rơ hơn có thể được t́m thấy trong bản văn gọi là Paramatthamañjusā đă được Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) giải thích như sau:

Một Thiền sinh (Aspirant) muốn tiến tới cơi Phạm Thiên bằng phương tiện thân xác hữu h́nh. Chỉ cần trú nhập thiền Jhana. Chính là căn bản của thần túc thông (psychic feats). Rồi lại thoát ra thiền Jhana và nhắc lại trong tâm “Mong rằng tâm tiến tới với mức độ thân xác.’ rồi người đó lại trú nhập thiền Jhana và khi xuất khỏi Jhana, liền quyết định bằng khả năng trí (tức là Ñāṇa) muốn thực hiện điều đă thực hiện trước đó.

Ngay cả với những giải thích trên trong Paramatthamañjjusā, xem ra khó khăn vẫn c̣n đó. Theo ư kiến của tôi, mười loại Thần Túc Thông (Iddhividhi), tức là thần túc thông (psychic feats) đều là những kết quả của cái gọi là “Adhiṭṭhāna” có nghĩa là quyết tâm hay khả năng ư chí mạnh mẽ được tăng cường một cách mạnh mẽ. Chính v́ thế chúng được gọi là Adhiṭṭhāna Iddhi’. Tuy nhiên, một thiền sinh (aspirant)có khả năng tận dụng được một cách hiệu quả khả năng Adhiṭṭhāna của ḿnh phải đắc thủ được với cái gọi là sức mạnh lợi khẩu tâm linh, tức là sức mạnh thuần thục tâm , điều này ngầm hiểu, tỷ dụ như, thuần thục trong việc trú nhập thiền, rồi lại thoát ra khỏi thiền Jhana. Chính v́ thế không có khó khăn nào đối với vị tỳ khưu đắc được những khả năng đi tới được Phạm Giới (Brahmaloka), cho dù bằng phương tiên thân xác hữu h́nh của “bản sao thần tiên”. Đối với vị tỳ khưu này không có vấn đề ǵ trong việc bay bổng lên, có nghĩa là làm cho thân xáccủa ḿnh bay lên và bồng bềnh trên không trong bất kỳ tư thế nào của thân xác và ở bất kỳ vận tốc nào ngài cho là thích hợp.

 

Những giải thích về Tri giác hạnh phúc và phấn khởi

 

Từ Pali ám chỉ hai loại tưởng (saññā) này chính là Okkamati, có nghĩa đen là “hạ xuống tới” ám chỉ hành vi rút lui nhập thiền tới tận lạc tưởng và khinh tưởng như đă được đề cập tới ở trên, cả hai đều là những phẩm chất tâm cùng xảy ra một lúc khiến cho có thể thực hiện được những phép lạ (thần thông) và dựa trên căn bản Thiền Jhana. Những ai muốn tham khảo những đoạn nguyên thuỷ chúng tôi trích ra đây đoạn văn Pali sau đây: Sukhasaññañca lahusaññañca okkamatīti pādakajjhānārrammaṇena iddhicittena sahajātam sukhusaññanca lahusañññañca okkamati pavisati phusati sumpanuṇāti….

Tuy nhiên từ ‘Sukhasaññā hay là lạc tưởng c̣n ám chỉ xả tường (Upekkhā) (có nghĩa là không phải thuộc hạnh phúc cao độ như ám chỉ theo nghĩa đen.) Lư do là v́ mức độ hạnh phúc cao độ nơi thiền Jhana th́ lúc nào cũng phảng phất lâng lâng và tinh tế đến nỗi được gọi là hành xả. Đoạn viết bằng tiếng Pali xác định điều được mô tả về bốn đặc tính của thiền Jhana như sau: “Yantaṃ ariyā ācikkhanti upekkhako satimā sukhavihārīti: những ai đạt được xả bất tận và liên tục có thể kết hợp trong mọi Sát na tâm với niệm, được các vị thánh gọi l xả niệm.

Từ ‘Lahusaññā, nghĩa đen có nghĩa là khinh tưởng. Ta có thể nói bao gồm không ǵ hơn là kết quả (đi kèm theo) với lạc tưởng. Điều đó có thể cho là ‘nhẹ nhàng’ hay là ‘nhanh nhẹn” hoàn toàn tách biệt khỏi bất cứ điều ǵ là nặng nề có thể làm chậm trễ tiến bộ. Những điều này chẳng là ǵ hơn là năm triền cái và ngăn trở khác đối với những bậc Thiền Jhana cao hơn như vitakka (tầm) vicāra(tứ) piti (hỷ) (Ecstasy) và sukha (lạc) một trong thiền bậc ba). Làm sao những triền cái (nivaraṇa) có thể gây trở ngại cho phát triển đối với một thiền sinh có thể được thấy rơ ràng. V́ ngay cả ở Thiền thứ nhất th́ tâm của thiền sinh đă được giải thoát khỏi (relieved) mọi áp lực của tâm bướng bỉnh và (tâm viên muốn nói hay bắt chước) do đó được tinh tế, tuân thủ theo ư muốn và dễ dàng uốn nắn. Bất kỳ chủ đề thiền nào thiền sinh gắn kết tâm trên đó đều được ấn định cách vững chắc và không thể lay chuyển. Khi mà chỉ có những triền cái đă được loại bỏ một cách hiệu quả, chính v́ thế ta thử tưởng tượng xem thân xác ta sẽ được nhẹ nhàng và trôi nổi bồng bềnh như thế nào ngay cả khi những yếu tố cấu thành thiền Jhana bậc thấp cũng sẽ được ḱm lại. Ở mức độ thiền này tâm chắc chắn sẽ đạt được sức mạnh kiến tạo cao siêu.

Đây chính là phương cách và lư do tại sao Thiền Jhana Bậc Bốn được bổ sung thêm với năm pháp thuần thục chính là căn bản hay là nguồn sức bật của việc thực hiện những phép lạ (thần thông) đó. Như vậy an lạc tinh tế và được thanh tịnh ở đây tương đương với xả (Upekkhā), chính v́ thế được đề cập đến ở đây như là một đức tính của thiền Jhana bậc bốn..

C̣n nhiều giải thích nữa, cũng đem lại hiệu quả cho là với việc đạt đến thiền bậc bốn th́ thân xác bụi trần của thiền sinh (có nghĩa là thân xác hữu h́nh) sẽ trở nên nhẹ nhàng và bồng bềnh như một nắm bông. Đây là điều khiến cho thân xác dễ dàng và tự nhiên để cho di chuyển tới được cơi Phạm Thiên. Giống hệt như nhúm bông được thổi bay theo chiều gió. Trên đường bay đó, nếu người đó muốn đi bộ trên không người đó sẽ tạo ra được một lối đi trên đó thông qua sức mạnh thiền dựa trên đất Kasiṇa. Mặt khác, nếu người đó có thể quyết tâm dựa trên phong-kasiṇa. Th́ ngọn gió này có thể mang đi, hoặc dưới dạng một nhắm bông g̣n hay như dạng một mũi tên do người bắn cung bắn đi, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào ư muốn của người đó.

 Những giải thích ở trên đă làm rơ bằng cách nào vị tỳ khưu đạt được thuần thục tâm ở các mức Thiền khác nhau, h́nh như có vẻ xung khắc với luật tự nhiên được con người hiện đại biết và hiểu được cho đến thời điểm này. Câu hỏi hiện nay là liệu một con người c̣n có thể làm được điều đó hay không. Tuy nhiên ta thấy có hiện tượng rất nhiều các thiền sinh nhập thiền đă cảm nghiệm được, đó là sau một giai đoạn tu luyện nghiêm túc, và đạt đến được một mức độ tập trung tư tưởng nào đó (one-pointedness) h́nh như đối với họ th́ thân xác có thể bay bổng lên được. Nhưng cho đến nay, trường hợp một thiền sinh kinh qua được những kinh nghiệm như vậy thực sự đă bay bổng lên trời vẫn chưa thấy được ghi lại bao giờ. Tuy nhiên theo ư kiến của tôi khả năng hiện tượng này có thể xảy ra không phải là không có.

 

Những giải thích hướng thân xác về những sức mạnh tâm

 

Một điều cần lưu ư đó là, di chuyển trên không bằng thân xác thể lư hữu h́nh theo đoạn Pali được ghi lại là “Kāyavasena cittaṃ pariṇāameti” nghĩa là “hướng(hay là xác định) tâm tới sức mạnh của thân xác, trong khi đó di chuyển bằng tâm hay thân xác thần tiên, tiếng Pali ghi lại là “cittavasena kāyaṃ pariṇāmeti” có nghĩa là hướng thân xác tới sức mạnh tâm linh, điều này được giải thích như sau:

 “Hướng (hay quyết tâm) thân xác tới sức mạnh tâm ” gồm đặt thân xác dưới sức khống chế của tâm . ‘Biến thân xác trở thành nhậy cảm với sức mạnh tâm. Điều này khiến thân xác di chuyển nhanh như tâm , đến nỗi không cần thời gian để di chuyển qua lại. Điều này được ghi lại bằng tiếng Pali như sau: Kāyaṃ gahetvā citte āropeti cittānugatikaṃ karoti sīghagamanaṃ, cittagamanaṃ hi sīghaṃ hoti.

Những đoạn văn trên là những giải thích của Trưởng lăo Buddhaghosa trong bản văn có tên l Paramatthamañjusā(2/292) do Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) giải thích, c̣n có một số giải thích ư hệt như vậy đối với hiệu quả đó như sau:

‘Đặt thân xác trên tâm” có nghĩa là “quyết tâm bằng cách nhắc lại thân xác được tác tạo nên từ tro bụi, đă biến thành một chủ đề được ghi lại trong “Pādakajhānacitta’ (cho là tâm là bệ phóng thiền Jhana) để có thể thực hiện quyết tâm, ‘Mong rằng thân xác này được giống như tâm này’ chính v́ thế điều này đă khiến cho thân xác được khoác lấy bản chất của tâm (khiến thân xác nhẹ nhàng và bồng bềnh như tâm tâm vậy.)

 

Lời dạy của Đức Phật

 

Điều cần lưu ư thêm là ngoài những lời giải thích trên, c̣n có những lời dạy của Đức Phật như đă được ghi lại trong Kinh Phật, rất ngắn gọn và cô đọng như sau: Yāva Brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti. Điều này có nghĩa là hướng tới (hay quyết tâm) sức mạnh qua thân xác đến cơi Phạm Thiên.’ Câu trên xem ra bao gồm toàn bộ những ǵ đáng nói, không những chỉ xác định xem có thể dùng sức mạnh thân xác hay tâm. Một câu trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) c̣n đưa ra ư nghĩa như sau: ‘Brahanaloke kāyena attano vasaṃ vatteti’ nghĩa đen là ‘Hướng sức mạnh của mỗi chúng ta tới thân xác nơi cơi Phạm Thiên’

 

Những lời giải thích của ngài Trưởng lăo Xá-lợi Phất (Sārīputta)

 

Lời dạy của Đức Phật được ghi lại ở trên xem ra hơi quá ngắn gọn và khó hiểu, Trưởng Lăo Xá-lợi Phất (Sārīputta)lại đưa ra những giải thích về hiệu quả có thể hướng sức mạnh qua thể xác ngầm chứa một sự thật là nếu một vị tỳ khưu muốn đi vào cơi Phạm Thiên với thân xác hữu h́nh, và thân thể của ḿnh, ngài được yêu cầu hướng tâm đến sức mạnh thể lư (Kāyavasena cittaṃ pariṇāameti kāyavasena cittaṃ adhiṭṭhati). Nhưng nếu ngài muốn đến cơi đó bằng thân xác vô h́nh (có nghĩa là thân xác cơi trời) ngài phải yêu cầu hướng tới tâm và thực hiện một điều quyết tâm để thân xác của ngài phải đáp lại được với sức mạnh tâm (Cittavasena Kāyaṃ pariṇāneti cittavasena kāyaṃ adhiṭṭhāti).

Từ nhũng giải thích nêu trên do Trưởng Lăo Xá-lợi Phất (Sārīputta) thực hiện. Chúng ta có thể giải thích rằng: Để có thể đi tới cơi Phạm Thiên với thân xác vô h́nh hay thân xác cơi trời, một quyết tâm phải được thực hiện dựa trên cơ sở sức mạnh Thiền Jhana để tạo ra một Ư Sinh Thân, có khả năng di chuyển nhanh chóng như chính tâm vậy. Người nào được thuần thục tâm sâu xa như thiền Jhana th́ không khó khăn ǵ để tạo và phóng ra được sức mạnh đó tới mục tiêu yêu cầu.

 

Đạt đến lạc tưởng và khinh tưởng là điều vô cùng thiết yếu

 

Theo Trưởng Lăo Xá-lợi Phật (Sariputta) việc đạt đến lạc sung tưởng (Sukhasaññāa) và khinh tưởng (Lahusaññā) là vô cùng thiết yếu để có thể di chuyển thiền sinh (Aspirant) tới được cơi Phạm Thiên, cho dù thông qua thân xác hữu h́nh, hay bản sao chép vô h́nh ư sinh thân. Lời tuyên bố của ngài như đă đề cập đến ở trên.

Các giai đoạn, “đáp xuống (hay trú vào) tới lạc tưởng và khinh tưởng’ có nghĩa là thực hiện được việc gia nhập cơi Phạm Thiên thông qua cả hai loại tưởng đều đi kèm theo với tâm thần thông (iddhicitta) có nghĩalà tâm kỳ diệu to lớn dựa trên chủ để thân xác (Sukhasaññañca lahusaññañca okkamatīti rūpākāyārammanena iddhicittena sahajātaṃ sukhasaññaña lahusa \ññañca okkamatīti. (trṅch trong Thanh Tṇnh Ḍạo (Visuddhimagga) 2/245)

Điều khác biệt cơ bản giữa việc gia nhập vào cơi Phạm Thiên bằng thân xác hữu h́nh và thể lư do ư sinh thân, hay thiên thể chúng ta nên lưu ư ở đây. Trong trường hợp thứ nhất (có nghĩa là bằng thân xác thô thiển) lúc này xuất hiện một tưởng nhẹ nhàng và bay bổng đi kèm theo với tâm thần thông (iddhicitta) dựa trên cái gọi là ‘pādakajhāna’ loại thiền Jhana trên hay là bệ phóng của mọi sức mạnh thần thông.

Trong trường hợp một vị tỳ khưu muốn tới cơi Phạm Thiên bằng ư sinh thân, hay là thân xác cơi trời th́ cũng phải trải qua hậu quả là trú vào lạc tưởng v khinh tưởng, đi kèm theo tâm thần thông dựa trên thể xác. Tâm thần thông (iddhicitta) có nghĩa là tâm được linh hoạt sẵn sàng thực hiện các phép lạ (thần thông). Điều này được đạt đến thông qua mức độ thiền Jhana cao hơn.

Từ những giải thích ở trên, ta có thể hiểu rằng nhập vào cơi Phạm Thiên thông qua ư sinh thân cần thiết phải trú vào nhập thiền Jhana dựa trên thân xác thô thiển của ta. Điều này chính là tạo ra, hay phát ra ư sinh thân như là một phương tiện di chuyển tới đó. Mặt khác, để có thể đi tới cơi Phạm Thiên bằng thân xác , điều cần thiết lại là rút vào nhập thiền Padakajhana như đă được bàn đến ở trên. Điều này gồm khả năng thiền Jhana có thể biến thân xác thành nhẹ nhàng như một nắm bông.

 Chính Đức Phật cũng thường xác định khả năng này (trong Đại Phẩm Kinh (Mahāvāravagga) thuộc Tương Ưng Bộ Kinh 19/ 363 như sau:

“Ôi Ananda, bất luận khi nào Đấng Như Lai (Tathāgata) thiết lập được thân xác trên tâm và tâm trên thể xác, trú vào lạc tưởng và khinh tưởng. Rồi thân xác Đấng Như Lai (Tathāgata) trở nên nhẹ hơn b́nh thường và linh hoạt hơn (có nghĩa là dễ dàng tuân thủ và sẵn sàng thích hợp với các mệnh lệnh của tâm) trở thành dễ dàng linh hoạt, cơ động hơn và bóng láng rạng rỡ hơn v.v… ở vào thời điểm đó th́ thân xác của Đấng Như Lai (Tathāgata) có thể dễ dàng bay bổng lên. Giống như một nhúm bông, v́ nhẹ nhàng có thể trôi bồng bềnh trên không tuỳ theo ư muốn.”

Đối với những ai quan tâm đến các đoạn nguyên thủy Pali, chúng tôi xin trích như sau:

“Yasmiṃ Ānanda samaye Tathāgato kāyampi citte samādahati citampi kāye samādahati sukhasaññañca lahussaññañca kāye okkamitvā okkamitvā viharati.

Tasmiṃ Ānanda samye Tathāgatassa kāyo lahutaro ceva hoti mudutaro ca kammanīyataro ca

Tasmiṃ Ānanda samaye Tathāgatassa kāyo appakasireneva pathaviya vehāsaṃ abbhuggacchiti seyyathāpi Ānanda tūlapicu vā kappāsapicu va lakuko dhārupādāno appakasireneva paṭhaviyā vehāsam abbhuggacchati”

Theo tập Chú giải, đoạn “Kayampi citte samādạhati’: thiết lập thân xác trên tâm có nghĩa là hướng thân xác và thiết lập trên tâm. Điều này có nghĩa là biến thân xác lệ thuộc vào tâm, hướng thân xác tới bản chất hay điều kiện của tâm có nghia là Mahaggatacitta. Tâm miệt mài hành thiền Jhana. Vào lúc này, tâm không c̣n th́ giờ để di chuyển đâu đó nữa. Khi thân xác được biến đổi thành bản chất của tâm. th́ lúc đó thân xác có thể vượt qua được với tốc độ tâm. (Kāyaṃ gahetvā citte aropeti cittasannisitaṃ karoti cittitgatiyā peseti. Cittaṃ nāma mahaggatacittaṃ gatigamanaṃ lahukiṃ hoti”

Với câu, “Citampi kāye samādahati” có nghĩa là hướng tâm và nhập tâm vào thân xác.’ Đây chính là biến tri tuệ lệ thuộc vào thân xác, hướng tâm tới bản chất và điều kiện của thân xác, nghĩa là thân xác thô thiển. Việc di chuyển đi lại của thân xác này vô cùng chậm chạp (Citaṃ gahetvā kāye aropeti kāyasannissitaṃ karoti kāyagatiyā peseti. Kāyo nāma karajakāyo. Kāyagatigamanaṃ dandhaṃ hoti.)

Lạc tưởng và khinh tưởng, có nghĩa là tri thức đi kèm theo với Tâm Thần Thông (Abhiññācitta)(có nghĩa là trí tâm có khả năng thực hiện các phép lạ (thần thông)) điều đó được gọi là lạc tưởng, là v́ tâm này có thể thâm nhập được vào tới niềm sung sướng tột độ đó và b́nh an thanh thản. Điều đó đựợc gọi là Lahusaññā là v́ không c̣n bị những vẩn đục đè nặng có thể tạo ra chậm trễ. (Sukhasaññañca Lahusaññañcāti abhiññācittasahajātasuññāṢā santasukhasamannāgatattā sukhasaññā nāma hoti. Kilesadandhāyitattāya ca abhāvā lahusaññā nāma --- (trṅch trong Samantapāsādika 3/ 368)

Tóm lại, toàn bộ những ǵ được triển khai ở trên đều là những giải thích về giáo lư của Đức Phật “để nhập thể xác nơi tâm và nhập tâm nơi thể xác’ Tất cả đều mang ư nghĩa giống như các đoạn này “Để có thể đi tới cơi Phạm thiên giới (Brahmaloka) bằng thân xác thô thiển. Điều cần thiết là hướng tâm tới, thực hiện quyết tâm để cho tâm mặc lấy bản chất và điều kiện của thân xác. Ngược lại để có thể đi tới cơi Phạm Thiên bằng ư sinh thân, điều cần là hướng thân xác và thực hiện quyết tâm để cho thân xác có được những điều kiện và bản chất của tâm.

 


 

[4] So tassa brahmuno purato rūpaṃ abhinimmināti manomayaṃ rūpaṃ sabbaṇgapaccanaṃ ahīnindriyaṃ.