NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 

                                                               Nguyên tác: Supra-Mundane, Psychic Powers
                                                
 Tác giả:       Phorn Ratanasuwan
                                               
  Dịch giả:     Tỳ khưu Thiện Minh

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mười Phép Thần Thông (inddividhi)

 

Để soi sáng hiểu biết về thần thông (iddhi) hay là các phép màu. Chúng ta nên tham khảo các đoạn văn sau đây trong Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) (Khu. Pa. 31689) như sau:

1. Phép quyết định Thần Thông (Addhiṭṭhāna Iddhi): Những khả năng đạt được thông qua quyết tâm (Adhiṭṭhāna) như: từ một người biến thành nhiều người.

2. Phép thần thông Vikubanā (iddhi)): những khả năng biến đổi thân.

3. Phép Ư Sinh Thân hay hóa tâm thông (Manomayā iddhi): khả năng thông qua tâm có nghĩa là tạo ra hay phát ra một thân xác cơi trời xuất phát từ bản sao chép sắc thân.

4. Ñāṇavipphārā Iddhi: nghĩa đen, khả năng thông qua khuyếch tán ánh sáng hay tỏa khắp về phía tuệ quán (Ñāṇa) mà đạt được.

5. Samādhivipphārā Iddhi: nghĩa đen, sức mạnh đạt được thông qua khuyếch tán hay toả khắp về phía thiền.

6. Ariyā Iddhi: sức mạnh đặc biệt của các vị thánh nhân.

7. Kammavipākajā Iddhi: sức mạnh do kết quả các hành vi nghiệp chướng đem lại.

8. Puññavato Iddhi: khả năng của những ai tích tụ được nhiều việc công đức.

9. Vijāmayā Iddhi: sức mạnh do tụng kinh hay cầu các câu thần chú (mantras)

10. Tattha tattha sammāpayogapaccayā Vijjhamaṭṭhena iddhi: sức mạnh thông qua thành công trong việc thực hiện hiệu quả hay bổn phận của chúng ta.

Những giải thích được t́m thấy trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) (2/270) như sau:

1. Phép Thần Thông quyết định (Addhiṭṭhāna Iddhi): Khả năng quyết tâm. Ví dụ như biến một người thành nhiều người. Người này và thành nhiều người khác cùng một chủng loại giống nhau như đă được giải thích.

2. Phép biến đổi thân (Vikubanā Iddhi): khả năng qua biến đổi thân xác điều này cũng đă được giải thích.

3. Phép Ư Sinh Thân (Manomayā iddhi): khă năng thông qua tâm, cũng đă được giải thích. Điều này cũng được gọi là Manomayiddhi

4. Ñāṇāvipphara thần thông (iddhi): nghĩa đen, khả năng đạt được thông qua khuyéch tán ánh sáng hay toả sáng về phía Ñāṇā (tuệ quán) trong Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) cũng có lời giải thích sau đây:

Một thiền sinh thường xuyên hay liên tục chiêm ngưỡng bất kỳ những khia cạnh phật pháp sau đây cho đến khi thể hiện được chân lư từ đó mà ra được cho là đă đạt đến thành công trong khả năng này thông qua tuệ quán (Ñāṇā) có nghĩa là Tuệ giác như sau:

a) Kẻ nào thường xuyên suy tưởng đến pháp khổ cho đến lúc người đó có thể từ bỏ được Sukkha-saññā, có nghĩa là lạc tưởng .

b) Kẻ nào suy tưởng đến pháp vô ngă hay là vô thực chất cho đến khi người đó có thể loại bỏ được Attasaññā, có nghĩa là ngă tưởng.

c) Kẻ nào thường xuyên suy tưởng đến pháp dẫn đến chán năn ảo giác cho đến khi người đó loại bỏ được hoan hỷ, có nghĩa là những đam mê dục lạc.

d) Kẻ nào thường xuyên suy tư đến diệt đế (nirodha) hay tận diệt cho đến khi người đó có thể loại bỏ được nhân duyên khổ.

e) Kẻ nào thường xuyên suy tư đến Paṭinisagga, có nghĩa là bỏ qua hay buông thả cho đến khi người đó có thể loại bỏ được Chấp tŕ (Ādāna) có nghĩa là chấp thủ.

Loại thần thông (iddhi) hay sức mạnh này được phát sinh từ tuệ giác tràn ngập tâm của người đó và bảo vệ họ khỏi những ảnh hưởng phá hoại ngầm. Chính v́ thế chúng được gọi như vậy. Theo nghĩa đen, chúng là tuệ giác lan toả khắp nơi, đang khi thực sự chúng mang tính chất bảo vệ cho tuệ giác. Trong Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) có đưa ra một số ví dụ liên quan đến Trưởng Lăo Bākula, Sañkicca Bhūtapāla, dưới đây là những tường thuật ngắn về các vị như sau:

 

Trưởng Lăo Bākula.

 

 Khi c̣n là một đứa nhỏ, vào một ngày rất thuận tiện Trưởng Lăo Bākula được đưa đi tắm sông. V́ bất cẩn nên đứa nữ tỳ đă tuột tay đánh rơi cậu bé xuống sông và ḍng nước đă cuốn cậu bé đi mất. Nhưng ngay sau đó có một con cá to đă nuốt cậu bé vào bụng và con cá bơi tới tận thành phố Barāṇasī (ngài được sinh ra tại thành phố Kosambi), tại đây có người đánh cá bắt được con cá này và đem bán cho vợ người triệu phú trong vùng. Bà này trong thấy con cá th́ đem ḷng thích thú, nói rằng: “Tôi sẽ tự tay đem luộc con cá,” Bà tiến hành mổ con cá ra, và vô cùng kinh ngạc do một sự ngạc nhiên lư thú. Khi nàng nh́n thấy trong bụng con cá có một đứa bé trai có nước da giống như vàng vậy. Nh́n thấy đứa bé vẫn c̣n sống, nàng vô cùng sung sướng v́ có được một cậu con trai cho chính ḿnh. Như vậy người vợ của nhà triệu phú đă nuôi dạy cậu nhỏ Bākula lớn lên rất kỹ càng và đầy t́nh thương cho đến khi cậu bé lớn lên và sau đó được nhận thọ giới thành tỳ khưu, và cuối cùng đă đạt đến bậc A-la-hán.

Theo ngài Trưởng Lăo Tác giả Buddhaghosa cho là cậu bé vẫn c̣n sống an toàn trong bụng cá, đó là do Sức Mạnh Che Chở của chính trí Ñāṇa hay tuệ giác của cậu có nghĩa là sức mạnh tuệ giác tiềm tàng nhờ đó mà ngài có thể đạt đến bậc A-la-hán ngay trong cuộc sống của ḿnh.

Qua lời giải thích này, chúng ta thấy điều đáng lưu ư là một thiền sinh đến thời điểm thích hợp để đạt đến bậc A-la-hán ngay trong cuộc sống của ḿnh phải tích luỹ được rất nhiều công đức từ nhiều kiếp trước. Toàn bộ những công đức này được gọi gộp lại thành Đáo bỉ ngạn (pāramī) tiếng Việt gọi là Ba-la-mật (pāramī) gồm mười loại công đức khác nhau, gồm có Tuệ (Paññā) hay khôn ngoan. Toàn bộ những công đức này đều phát triển đến độ trưởng thành khiến cho ngài có thể đạt đến thành tích cuối cùng trong cuộc sống. Trong cuộc sống đó, không có ǵ có thể hăm hại hay không có mối hiểm nguy nào có thể tách ngài khỏi cuộc sống trước khi ngài đạt đến Bậc A-la-hán. Điều này nhằm khẳng định một câu nói trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada) cho là người thiền sinh nhằm đạt đến bậc A-la-hán vào đúng thời điểm thuận tiện trong cuộc sống này không thể chết trước khi đạt đến thành tựu đó. Ngay cả ngọn núi Sineru cũng chẳng đè bẹp được người. Đoạn văn được viết bằng tiếng Pali như sau: Pacchimabhavikasatasssa hi sininerunā otthaivamānassāpi arahattaṃ appatvā jīvitakkhayo nāma natthi – (Trích trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada) đoạn bốn trang 118.) chính v́ thế từ “Ñāṇavipphara Iddhi” Được mô tả là một phẩm chất vượt trội hơn hẳn do Tuệ giác tiềm tàng phát sinh từ các tiền kiếp. Chính v́ thế “Khả năng tiềm tàng tột độ qua Tuệ giác đó trước, đang và sau khi xảy ra tuệ giác thực sự vậy.

Các chi tiết viết về Trưởng Lăo Bakula cũng được t́m thấy trong Kinh Bākula(Bākulatthae-raccharriyabbhūta Sutta) và bài chú giải về kinh này (xin đọc Ma. Upari. 14/255 số. 380) Papañcasūdanī 3/ 597. và Manorathapūraṇī 1/ 330.) Theo tập chú giải, Trưởng Lăo Bākula, hay đôi khi có người gọi ngài là Bakkula được nhận thọ đại giới ở tuổi 80 và ngài đă đạt đến bậc A-la-hán chỉ bảy ngày sau lễ xuất gia và qua đời ở tuổi 160. Cách này cách khác ta có thể nói ngài thuộc một số trong 80 vị A-la-hán được xếp hạng cao nhất. V́ ngài được ca ngợi là có sức khoẻ tốt nhất, nghĩa là ngài ít khi bị bệnh. (xin đọc Añga, Eka 20/32 số . 144)

 

Trưởng lăo Sañkicca

 

 Mẹ của ngài qua đời khi ngài vẫn c̣n nằm trong bụng mẹ. Cứ sự thường th́ người ta hiểu rằng ngài cũng phải chết theo mẹ. Chính v́ thế người ta đă đặt xác chết của mẹ lên dàn thiêu và sửa soạn cho việc hoả táng. Vào lúc người phụ trách công việc hoả táng lấy chiếc giáo rực đỏ chọc vào bụng xác chết. Th́nh ĺnh ngọn giáo đâm trúng vào mắt đứa bé khiến cho nó la lối đau đớn. Nghe thấy tiếng kêu của đứa bé, người thực hiện hoả táng mới biết đứa bé vẫn c̣n sống. Ông liền lấy xác người mẹ ra khỏi dàn thiêu và mổ lấy đứa bé ra khỏi bụng mẹ rồi giao cho bà nội chăm sóc. Cậu bé được bà nuôi dạy khôn lớn cho đến bảy tuổi, bà liền xếp đặt cho cậu nhỏ lănh thọ giới thành thầy Sa-di. Sau này cậu nhỏ đă đạt đến bậc A-la-hán cùng với Tứ Vô ngại giải đạo (paṭisambhidā). Đó chính là bài tường thuật ngắn ngủi về cuộc đời Trưởng Lăo Sañkicca được kể lại trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), trong đó có giải thích do hiệu quả các công đức trước kia và ngay trong cuộc sống, ngài không bị hăm hại cho dù bị thiêu trên dàn hỏa táng hay bị đâm bằng ngọn giáo, đó chính là v́ ngài có được Sức Mạnh Bảo Vệ do tuệ giác A-la-hán đem lại.

Một số đề tài liệu dài hơn viết về Trưởng Lăo Sañkicca được t́m thấy trong đoạn bốn Pháp Cú Kinh (Dhammapada) với một số khác biệt như sau:

Mẹ của Trưởng Lăo là con gái một nhà triệu phú tại thành phố Sāvatthī. Bà chết khi cậu bé c̣n nằm trong bụng mẹ. Đang khi người ta hoả táng bà, toàn bộ thịt các phần thân thể khác đều cháy hết, chỉ trừ vùng bụng th́ không hề hấn ǵ, (Tassā Jhāpiyamānāya ṭhapetvā gabbhamaṃsaṃ sesamaṃsaṃ jhāyi) Thấy vậy người phụ trách nhiệm vụ hoả táng liền lấy xác khỏi dàn thiêu và lấy ngọn giáo đâm vào phần không cháy hai ba nhát, và sự việc xảy ra là chiếc giáo đâm trúng mắt đứa bé, ngay tức khắc người đó lấy đứa bé ra khỏi bụng mẹ rồi lại vùi vào trong đống than đỏ rực và bỏ đi. Kết quả là toàn bộ những ǵ c̣n lại của người mẹ đều cháy hết, nhưng đứa bé th́ không hề hấn ǵ. Giống như vàng trên đống than, như nụ hoa nằm trong cánh bông sen. Điều lạ lùng này xảy ra là v́ con người nào được tiền định sống từ thời tiền kiếp, không thể bị hại bằng bất kỳ cách nào, ngay cả khi núi Sineru có sụp đổ trên đầu người đó, trước khi ngài đạt đến Bậc A-la-hán.

Athassā gabbhamaṃsaṃ citakā otāretvā dvīsu tīsu ṭhānesu sūlehi vijjhiṃsu. Sūlakoṭi dārakassa akkhikotiṃ pahari. Evaṃ gabbhamaṃsaṃ vijjhitvā angārārasimbi. Khipitvā añgāreheva paṭicchādetvā pakkamiṃsu. Gabbhamaṃsaṃ jhāyi Añgāramatthake pana suṣaṇṇbimbasadiso dārako padumagabbhanipanno viya ahosi. Pacchimabhavikasattassa hi sinerunā tthariyamānassāpi arahattaṃ appatvā jūvitakkhayo nāma natthi.)

Người phụ trách hoả táng trở lại vào ngày hôm sau để dẹp đống lửa đi. Ông quá đỗi ngạc nhiên khi thấy đứa bé nằm đó không hề hấn ǵ “Trời ơi điều ǵ thế này?” Họ nghĩ toàn bộ những ǵ của bà mẹ đều cháy hết, nhưng đứa bé tại sao lại không hề hấn ǵ, đâu là nhân duyên của điều này vậy?” Họ mang đứa bé về nhà và hỏi “Pháp sư” về điều này. Cậu trả lời họ nhận được là, “Nếu đứa bé này trở thành một chủ gia th́ bảy họ gia đ́nh của đứa bé sẽ không bao giờ nghèo khổ; nếu kẻ nào nhận nuôi đứa trẻ vô gia cư này, người đó sau này sẽ có một đoàn tùy tùng lên tới năm trăm vị Sa môn hỗ trợ trên khắp mọi nẻo đường cuộc sống” Sau này ngài được đặt tên cho là ‘Sañkicca’ nghĩa là xuất phát từ chừ ‘Sanku” có nghĩa là cây chấn song sắt có đầu nhọn hay là một ngọn giáo hoặc một cái mác.

Thế là nhiều gia đ́nh đă nhận nuôi cậu bé, họ bảo nhau, “Bất kể cậu bé sau này có như thế nào đi chăng nữa, khi cậu bé lớn lên chúng ta sẽ xin cho cậu nhận đại thọ giới trong tăng già của Trưởng Lăo Xá-lợi Phất (Sārīputta.)” Vào tuổi lên bảy, cậu đă nghe những đứa trẻ khác kể lại, là khi c̣n ở trong bụng mẹ cậu, lúc mẹ đă chết và khi người ta thiêu xác mẹ trên dàn hỏa táng, nhưng cậu chẳng hề hấn ǵ. Điều này đă làm tăng thêm tiềm năng cho cậu và cậu đă quyết khi lớn lên cậu sẽ theo đuổi cuộc sống vô gia cư. Những người nhận nuôi cậu đồng ư và họ liền đem cậu đến tŕnh với Xá-lợi Phất (Sārīputta) Ngài dạy cho cậu năm Kammaṭṭhāna (có nghĩa là chiêm ngưỡng sự ghê tởm của tóc trên đầu, lông trên người, móng tay, răng và da thịt) và cậu đă đạt đến bậc A-la-hán cùng với tứ Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidā) ngay khi cậu đang làm lễ xuống tóc.

C̣n nhiều chi tiết về tiểu sử của Ngài Sañkicca được viết trong cuốn Pháp Cú Kinh (Dhammapada) chương bốn. Cũng cần lưu ư một điều là những bài tường thuật trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada) c̣n ghê gớm hơn trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga). Nhưng có một điều chung là: Đây là lời tuyên bố rơ ràng về một sự kiện là: Chẳng có hề hấn ǵ có thể gây nguy hại cho Sañkicca cho dù những mối nguy hiểm đó trong trường hợp b́nh thường có thể giết chết những người khác, nhờ sức mạnh bảo trợ sau này ngài sẽ đạt đến Bậc A-la-hán. Ngay trên cơi đời này, những ǵ ngài phải chịu chỉ là một vết thương nhẹ do cái lao của người phụ trách hoả táng gây ra vào góc con mắt của ngài mà thôi.

 

Cậu Bé Tên Là Bhūtapāla.

 

 Cậu bé sinh ra trong một gia đ́nh nghèo khổ tại thành phố Rājagaha. Một ngày kia cha cậu bé mang cậu đi theo trên chiếc xe ḅ vào rừng kiếm củi về bán. Sau khi đă chất củi đầy xe, hai cha con lên đường về nhà cho tới khi họ vừa tới cổng thành vào lúc nhá nhem tối. Ngay lúc đó mấy con ḅ kéo xe tuột khỏi ách và biến mất vào trong thành phố trước khi ông bố có thể khống chế nổi chúng. Người cha liền nói với con trai ngồi chờ trên chiếc xe chất đầy củi, để ông chạy vào thành đuổi bắt lại mấy con ḅ, tuy nhiên cổng thành đă đóng truớc khi người cha có thể trở lại. Trong t́nh huống đó ông buộc phải bỏ lại cậu bé một ḿnh bên ngoài cổng thành. Người ta kể lại rằng cậu bé chẳng hề hấn ǵ kể cả đau ốm và bầy quỉ ma thường rong ruổi khắp nơi trong vùng đó, do cậu bé có sức mạnh thần thông Ñāṇa vippharā, tức là Sức Mạnh Bảo Trợ Ñāṇa hay là tiềm năng tuệ giác.

Đây là bản tường tŕnh ngắn gọn kể về cậu bé. Cũng c̣n có nhiều chi tiết cần được nghiên cứu thêm nữa. Nhưng rất tiếc Trưởng Lăo tác giả không cho chúng ta biết t́m thấy ở đâu những chi tiết này. Theo ư kiến của tôi, bài tường thuật ngắn ngủi trên không liên can ǵ tới Sức Mạnh Bảo Vệ của cậu bé và sức mạnh tuệ giác cũng chẳng mấy thuyết phục và gây linh cảm là bao nhiêu. Tuy nhiên trong đoạn thứ bảy Pháp Cú Kinh (Dhammapada) có một câu chuyện viết về một cậu bé có tên là Dārusākatika – Rất có thể câu chuyện ám chỉ cậu bé Bhūtapāla kể lại ở trên. Câu chuyện như sau:

Tại thành phố Rājagaha, có hai cậu bé, một đứa là con trai của ông bố Sammādiṭṭhi (nghĩa là Chính Kiến) trong khi đó cậu bé kia lại là con trại của người cha theo Micchaditthi (nghĩa la Tà Kiến). Cả hai đứa trẻ đều thích chơi tṛ thảy súc xắc với nhau. Trong hai đứa bé, th́ cậu nhỏ con trai của người cha theo chánh kiến, trước khi thảy lục lạp, thường đặt cho ḿnh một qui luật là nghĩ đến Đức Phật, nói rằng “Nam mô Phật” có nghĩa là “lạy Đức Phật kính yêu” cậu nhỏ thứ hai là con của người cha theo tà kiến lúc nào cũng nghĩ đến Titthiya, có nghĩa là những tên theo tà đạo. và trước khi thảy lục lạp cậu lại kêu lên “Na-mô A-la-hán.” có nghĩa là “Lạy các vị A-la-hán.((Từ “A-la-hán” được sử dụng từ trước thời Đức Phật ám chỉ một thiền sư rất được dân chúng trọng vọng) Kết quả là cậu bé con của người cha theo chánh kiến thường thắng cuộc chơi. Lúc này cậu nhỏ thua cuộc nhận ra điều này và sau này liền theo gương người bạn của ḿnh. Chính v́ thế mà cả hai đă tích lũy được nhiều niệm tưởng về Đức Phật.

Một ngày kia, cậu nhỏ có cha theo chánh kiến đă đi theo cha trên chiếc xe ḅ vào rừng kiếm củi. Sau khi đă chất củi đầy xe, người cha liền đánh xe về nhà. Trên đường về hai cha con đă tới bên ngoài cổng thành gần một nghĩa địa, người cha liền thả cặp ḅ ra cho đi ăn cỏ trong vùng đó. Trong lúc người cha bận bịu sửa soạn bữa ăn cho cả hai cha con, ông không để ư đến mấy con ḅ.

Lúc này mấy con ḅ được thả rong liền nhập vào đàn ḅ đang trên đường về chuồng vào buổi chiều. Lúc đó ông Dārusākatīka- tên người cha theo chánh kiến. – sau khi đă dùng bữa xong và muốn lên đường về nhà trong thành phố, ông đi t́m mấy con ḅ nhưng không thể t́m thấy. Lần theo dấu chân vào trong thành phố, cuối cùng th́ ông cũng t́m thấy cặp ḅ và cố gắng dẫn chúng trở lại chỗ xe củi bỏ lại bên ngoài thành phố. Nhưng cổng thành đă đóng lại trước khi ông tới nơi. Như vậy ông phải bỏ lại cậu nhỏ một ḿnh bên ngoài cổng thành suốt đêm.

Người ta kể lại rằng tại thành phố Rājagaha cố đầy ma quái, nghĩa là những kẻ vô h́nh, đặc biệt là trong vùng gần nghĩa trang, nơi cậu bé đă bị bỏ lại một ḿnh. Lúc đó có một ma quái đang theo đuổi tà kiến nh́n thấy cậu bé liền nói. “Thật là tuyệt, đứa bé này là bữa ăn quá ngon cho chúng ta đây. Hăy thưởng thức bữa ăn tuyệt với thịt cậu bé.” Nhưng cũng có cả những chư thiên theo đuổi chánh kiến có mặt. Họ cố ngăn cản tên kia, bảo hắn không được làm thế, nhưng tên ma quái xấu xa nhất định không nghe. Hắn th́nh ĺnh giật chân đứa bé và lôi cậu bé đi theo.

 Lúc đó cậu bé đang ngủ ngon giấc, cảm thấy bị kéo chân lôi đi, tự nhiên cậu kêu lên như vẫn thường làm, nói rằng, “Nam-mô Phật.” Nghe thấy vậy, ma quái xấu xa hoảng sợ và biến mất.

Thế là những chư thiên tốt nói với ma quái xấu xa, “Nhà ngươi đă làm điều không nên chút nào, nhà ngươi sẽ phải bị phạt về hành vi này.” Rồi chư thiên tốt đứng trân nh́n cậu bé, ma quái xấu xa nh́n thấy như vậy, liền đi vào thành phố và mang lại cho cậu bé một mâm đầy thức ăn chọn lọc dành cho nhà vua. Cả hai chư thiên đều hành động như thể họ là cha mẹ của cậu bé. Họ đă đánh thức cậu bé dậy và cho cậu dùng bữa. Sau đó họ c̣n ghi một câu trên chiếc khay đựng đồ ăn, kể lại bằng cách nào và tại sao họ lại lấy cắp chiếc khay của nhà vua khỏi hoàng cung. Rồi họ quyết tâm muốn cho nhà vua nh́n thấy đoạn ghi trên đó. Sau khi cậu bé đă ăn bữa xong và lăn ra ngủ, thế là cả hai liền biến mất.

Có một cuộc bạo loạn xảy ra vào buổi sáng ngày hôm sau, khi sự việc được khám phá ra là chiếc khay đựng đồ ăn cho nhà vua đă bị kẻ trộm đánh cắp. Toàn bộ cổng thành được lệnh đóng lại, trong khi đó quân lính đi sục sạo tất cả các nhà trong thành phố. Sự việc không đem lại kết quả ǵ, họ tiếp tục đi lục soát bên ngoài thành phố và cuối cùng họ đă t́m thấy chiếc khay vàng trên chiếc xe củi của hai cha con Dārusākaṭika . Đứa bé bị bắt và bị kết án đánh cắp chiếc khay của nhà vua và bị điệu tới nhà vua, nh́n thấy ḍng chữ ghi trên chiếc khay nói rằng,” có điều ǵ thế con trai của ta.”

“Tâu bệ hạ, thần chẳng hay biết ǵ hết. thần chỉ biết có một điều là đêm hôm qua cha mẹ thần đem lại cho thần một chút đồ ăn và đứng canh cho thần ăn. Chính v́ thế mà thần không chút sợ hăi ǵ cả, rồi sau đó thần lại ngủ thiếp đi, đây là ṭan bộ những ǵ thần biết, thưa hoàng thượng.”

Cha mẹ của cậu bé lúc này cũng được điệu vào hoàng cung. Sau khi nghe thấy sự việc xảy ra, Nhà vua liền dẫn cậu bé cùng với cha mẹ đến đến gặp Đức Phật. Cậu bé kể lại toàn bộ sự việc cho Đức Phật nghe nói rằng. “Có phải chỉ có một điều duy nhất, là niệm tưởng tới Đức Phật có thể đem lại sức bảo vệ cho ta không? hay niệm tưởng đến Giáo pháp và tăng già cũng có thể đem lại sức bảo vệ cho trẫm?” Để trả lời câu hỏi của nhà vua, Đức Phật liền đáp lại, nói rằng:

“Không chỉ có thế, tâu bệ hạ. Một thiền sinh có được tâm luyện tập đến nơi đến chốn, dựa trên sáu điều căn bản sẽ không cần đến sức mạnh bảo vệ nào khác nữa cho chính ḿnh, người đó chẳng cần đến bất kỳ kinh kệ nào, hay thuốc men làm chi.” (Mahārājja na kevalaṃ Buddhānussatiyeva rakkhā, yesaṃ pana chabbihena cittaṃ subhavitaṃ, tesaṃ aññena rakkhāvaraṇeva vā mantosadhehi vā kiccaṃ natthi) sáu điều cơ bản đó là:

“Suppabuddhaṃ pabujjhanti
Sadā gotamasāvakā
Yesaṃ divā ca ratto ca
Niccaṃ Buddhagatā Sati.

Suppabuddhaṃ pabujjhanti
Sadā gotamasavaka
Yeaṃdivā ca ratto ca
Niccaṃ Dhammagatā Sati.

Suppabuddhaṃ pabujjhanti
Sadā gotamasāvakā
Yesaṃ divā ca ratto ca
Niccaṃ Sañghagatā Sati.

Suppabuddhā pabujjhanti
Sadā gotamasāvakā
Yesaṃ divā ca ratto ca
Niccaṃ kāyagatā sati

Suppabuddhaṃ pabujjhanti
Sadā gotamasāvakā
Yesaṃ divā ca ratto ca
Ahiṃsāya rato mana

Suppabuddhaṃ pabujjhanti
Sadā gotamasāvakā
Yesaṃ divā ca ratto ca
Bhāvanāya rato mano.”

Các đồ đệ của Đức Cồ Đàm (Gotama) được giác ngộ toàn diện, với tâm lúc nào cũng chăm chú đêm ngày vào:

1. Niệm tưởng về Đức Phật

2. Niệm tưởng về Giáo Pháp

3. Niệm tưởng về Tăng già

4. Niệm tưởng về Thân xác

5. Không làm hại đến chúng sanh và

6. Tu luyện thiền chỉ và tâm .

Giải thích: Theo các tập chú giải. Từ “Suppabuddham pabujjhanti: có nghĩa là được giác ngộ kỹ càng.’ Ám chỉ sự kiện cho là một thiền sinh niệm tưởng đến các việc ân đức của Đức Phật trước khi đi ngủ sẽ tỉnh dậy khoẻ mạnh (có nghĩa là được bồi bổ tươi tỉnh) (Buddhagataṃ satiṃ gahetvā supantāyeva pabujjhantā suppabuddhaṃ pabujjhanṭi nāma) Đoạn này có ư nghĩa tương tự như những lời Đức Phật dạy liên quan đến những lợi ích của việc tu luyện Mettā , có nghĩa là ḷng từ tâm. Từ đó phát sinh ra mười một điều như là Sukham supati: ngủ ngon. Sukham patbujjhati:thức dạy khỏe khoắn và Na pāpakṃ supinam passati: không bị ác mộng.v.v.

Một điều cần chú ư là những lời giảng dạy của Đức Phật được đề cập đến ở trên không công bố rơ ràng về niệm tưởng đến những đề mục như vậy như về Đức Phật có đem lại sự hỗ trợ chống lại những nguy hiểm cho thiền sinh. Những điều được nói đến trong đó chỉ là hiện thực là những suy tưởng như vậy có thể đem lại những điều kiện để được “Giác Ngộ Toàn Diện” điều đó ám chỉ những việc như ngủ ngon và tỉnh tảo khoẻ khoắn có nghĩa là được tỉnh táo và sung sướng.

Điều Trưởng Lăo tác giả cuốn Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) kể về cậu bé Bhūtapāla như là một ví dụ điển h́nh cho những ai được bảo vệ do tuệ giác tiềm năng hiện tại ở sự kiện được nhắc đến trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada) so với hiệu quả sau khi cậu nhỏ và cha mẹ của cậu đă nghe bài thuyết pháp của Đức Phật th́ tất cả họ đă đạt đến Quả Nhập Lưu. Sau này họ đă được ban thọ đại giới và đạt đến bậc A-la-hán. Điều này xảy ra là do tiềm năng đạt đến bậc A-la-hán của họ. Chính v́ thế mà họ đă vượt qua mọi khó khăn và nguy hiểm một cách an toàn. Chính v́ thế đây là một ví dụ về điều được gọi là Ñāṇavipphārā Iddhi: có nghĩa là phép lạ (thần thông) đạt được thông qua sức mạnh bảo vệ nhờ tuệ giác tiềm năng.

Samādhivipphārā Iddhi: (Phép lạ (thần thông) nhờ sức mạnh bảo vệ do thiền định đem lại). Theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) điều này là kết quả tuyệt vời nhất là kết quả Samatha (thiền chỉ) đem lại, nghĩa là an b́nh nội tâm có được trước, đang khi và ngay cả sau thời gian rút vào nhập thiền.

Từ lời giải thích nêu trên, thiền sinh đă đạt được thiền ở mức độ cao nhất với năm pháp thuần thục luôn được bảo vệ do sức mạnh thiền định mà ra. Điều này có nghĩa l không những trong giai đoạn thiền sinh đó trú nhập ở hiện trạng cao nhất, nhưng c̣n trước và sau giai đoạn đó nữa. Điều này có thể thấy nơi trường hợp thầy Sa-di Sañkicca là người đă được bảo vệ bằng chính sức mạnh này ngay từ thời ngài vẫn c̣n ở trong bụng mẹ. Trưởng Lăo Bākula cũng được bảo vệ đang khi ngài bị con cá to nuốt trọng và nằm ở trong bụng cá trong một khoảng thời gian tương đối lâu. Cả hai đă được bảo vệ giống như thế là nhờ vào tiềm năng đạt đến bậc A-la-hán của hai người, cho dù họ chưa đạt đến bậc A-la-hán vào thời điểm đó. Sức mạnh bảo vệ đó cũng giống hệt như vậy trong trường hợp hành thiền. Đối với những ai đă đạt đến t́nh trạng thiền ở mức độ đó, luôn có một cây dù bảo vệ che chở cho họ trong suốt thời gian dài, cả trước và sau giai đoạn họ rút vào t́nh trạng sảng khoái tâm cao độ đó. Đoạn văn viết bằng tiếng Pali duới đây được trích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga):”Samādhito pubbe vā pacchā vā tañkhaṇe va satthānubhāvanibbatto viseso samādhivippharā Idḍhi (2/209) và nơi cả hiện trạng kể trên có nghĩa là:Ñāṇa ppavatiti pana pubbe vā pacchā vā tañkhaṇe va ñāṇanubhavanibbatto viseso ñāṇavippha-ra Iddhi nāma (2/208).

Nhờ Trưởng Lăo tác giả Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) c̣n nhiều trích đoạn được liệt kê ra từ Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) như sau: từ ‘Iddhi’ có nghĩa là thành công (từ này có ư nghĩa tương đương với từ Jhana). Như vậy một thiền sinh đă loại bỏ được hết năm triền cái nhờ đạt đến được thiền Jhana bậc nhất cũng có thể được cho là đă đạt đến Samādhivipphārā Iddhi (Paṭhamajjhānena nīvaraṇānaṃ pahānattho ijjhatīti samādhivipphārā Iddhi) không kể đến việc đạt đến những thứ bậc cao hơn từ hành thiền Jhana bậc hai đến bậc bốn có nghĩa là đạt đến hiện trạng phi tưởng phi phi tưởng (Nether-Perception-Nor.Non.Perception) như trong trường hợp của Trưởng lăo Sārīputta) Trưởng lăo Khāṇukondañña, cận sự nữ (upasikas) Uttarā và cận sự nữ (upasikas) Samāvatī (Khu. Pa. 31/598)

Những đoạn trên trích từ Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) cho thấy từ ‘Iddhi’ không nhất thiết phải có nghĩa là thực hiện những phép lạ (thần thông) như ta thường hiểu. Những ví dụ điển h́nh nơi các thiền sinh hay các vị thánh đệ tử đă đề cập đến ở trên, cho ta thấy như sau:

 

Trưởng Lăo Xá-lợi Phất (Sārīputta.):

 

 Vào thời Trưởng Lăo Sārīputta đang lưu lại tại Kapotakandara (hẻm núi bồ câu) cùng với Trưởng Lăo Moggallāna chỉ ngay sau khi ngài xuống tóc, ngài đă ngồi thiền dưới ánh trăng tại một nơi trống trải. Lúc đó có Dạ-xoa (yakkha) hay quỉ dữ che dù đă bị người bạn ngăn cản, và hắn đă đánh một đ̣n chí tử lên đầu vị Trưởng Lăo. Cú đánh đó tạo ra một tiếng động vang như tiếng sấm. Nhưng lúc đó vị Trưởng Lăo đang nhập thiền diệt ở mức độ thiền chứng(samāpatti) và chính v́ thế ngài đă quên mất sự va đập và tiếng động đó. Đây chính là sức mạnh bảo vệ do thiền Định đem lại có nghĩa là do phép lạ thiền định Samādhivipphārā Iddhi của Trưỏng Lăo mà ra.

Đây là một bài tường tŕnh ngắn ngủi kể lại trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga). Nhiều chi tiết hơn có thể được thấy trong Phật Tự Thuyết (Udāna) (Khu. U. 25/131 số 93) như sau:

Đă có thời Đức Thế Tôn đang lưu lại tại Kalandakanivāpa trong Khu Rừng Trúc, gần thành phố Rājagaha. Chính trong thời gian này ngay sau khi xuống tóc đi tu, ngài Trưởng Lăo Xá-Lợi Phất (Sārīputta) đă rút vào hành thiền giữa một khoảng không gian mát mẻ vào giữa đêm trăng.

Ngay lúc đó có hai Dạ-xoa (yakkha), có nghĩa là ma quái đang di chuyển từ Bắc sang Đông làm công chuyện. Nh́n thấy Vị Trưởng Lăo ngồi thiền giữa khoảng không như thế, một trong hai Dạ-xoa (yakkha) nói cùng bạn của ḿnh, “Nh́n ḱa, ông bạn, ta sẽ giáng cho tên Sa môn kia một cú táng vào đầu” tên bạn Dạ xoa kia hết mực ngăn cản không nên làm thế, nói rằng, “đừng có làm điều đó làm chi, ông bạn ơi, vị Sa môn đó hết sức nhân đức, rất hùng mạnh và vô cùng phi thường đó.” Đă ba lần tên Dạ xoa thứ hai này thuyết phục bạn ḿnh không được làm thế, nhưng tên đó nhất định không nghe và đă giáng một đ̣n sấm sét lên đầu ngài Trưởng Lăo. Cú đánh mạnh đến nỗi có thể hạ một con voi mạnh mẽ cao bốn thước hay có thể nghiền nát cả một ngọn núi thành mảnh vụn. Sau khi làm điều đó, tên Dạ xoa tự nhiên cảm thấy nóng như thiêu như đốt trong người, và sức nóng đó dă dẫn hắn xuống cơi khổ ngay từ giây phút đó.

Trưởng Lăo Moggallāna qua Thiên Nhăn vượt hơn hẳn con mắt chúng sanh b́nh thường, đă quan sát thấy điều ǵ đă xảy ra. liền tiến lại gần Trưởng Lăo Xá-Lợi Phất (Sārīputta) và hỏi ngài, nói rằng, “Hỡi Bạn thân Xá-Lợi Phất (Sārīputta), ngài không thể chịu nổi cú táng đó có phải không? Liệu ngài c̣n thể giữ cho thân xác đó tiếp tục sống được không? có đau đớn ǵ xẩy đến cho ngài không? Trưởng Lăo trả lời, “Tôi có thể chịu đựng nổi mà, hỡi bạn hiền Moggallāna , tôi vẫn giữ thân xác tiếp tục sống được; chỉ có vài cọng tóc của tôi đau đớn chút đỉnh mà thôi.”

Trưởng Lăo Moggallāna lên tiếng, “Thật là tuyệt vời, chưa bao giờ xảy ra những điều như vậy từ xưa đến giờ. Ôi ngài Xá-Lợi Phất (Sārīputta) quá khoẻ mạnh và mănh liệt. Một Dạ xoa đă giáng một cú táng mạnh mẽ đến như vậy lên đầu ngài. Thực vậy cú táng đó có thể nhận ch́m cả một con voi cao bốn mét lọt sâu xuống ḷng đất hay có thể nghiền nát cả một ngọn núi cao. Tuy nhiên, người bạn Xá-Lợi Phất (Sārīputta) đ nĩi l vẫn có thể chịu đựng nổi, là vẫn c̣n sống được và chỉ có một vài cọng tóc trên đầu là đau đôi chút mà thôi.

Chính v́ thế Trưởng Lăo Sārīputta liền nói, “Ôi thật tuyệt vời điều đó chưa bao giờ xảy ra xưa nay. Ôi bạn Moggallāna thật quá khoẻ và mănh liệt đến cỡ nào, chính ngài đă chứng kiến tận mắt ma vương. C̣n tôi, tôi không thể nh́n thấy (ngay cả loại ma quái hạng thấp đến như vậy) một loại quỉ quái chơi giỡn với cát bụi như vậy ngay lúc này.

Đức Thế Tôn, sau khi nghe cả hai vị Trưởng Lăo đàm đạo với qua phép thiên nhĩ thông cảm vượt khỏi mọi khả năng của tai người thường có thể nghe được, liền thốt lên những lời kinh ngạc sau đây:

“Yassa selupamaṃ cittaṃ
Ṭhitaṃ nūnupakampati
Virattaṃ rajantesu kopaneyye na kuppati.
Yassevaṃ bhāvitaṃ cittaṃ
Kuto taṃ dukkhamessati

“Do đâu mà khổ lại xuất hiện nơi một người có tâm được b́nh thản, được an toàn giống như ngọn núi vững chắc không lay chuyển trước sân hận do những ảnh hưởng sân hận nổi lên và không lay động trước ḷng tham dục do những ảnh hưởng tham dục tạo ra.”

Rất có thể sẽ có một vài điểm hoài nghi trong bài tường thuật nêu trên, đặc biệt là những đoạn khẳng định Trưởng Lăo Xá-Lợi Phất (Sārīputta) không thể thấy ma quỉ đă đánh lên đầu ngài hay yêu quái đầy nhan nhản trong khu vực đó đang đùa giỡn với bụi bậm. Cho dù sự kiện ngài có được sức mạnh thiên nhăn này là điều hết sức quen thuộc. Tập Chú Giải Phật Tự Thuyết (Udāna) c̣n đưa ra lời giải thích như sau, cho là dù có xảy ra điều đó là v́ ngài đang trú nhập thiền Jhana rất sâu đậm, nên không muốn nh́n xem hay biết bất kỳ điều ǵ đang xảy ra chung quanh. Nhưng Trưởng Lăo Moggallāna , lại không say đắm nơi hiện trạng sung sướng cao ngất đến như vậy, chính v́ thế ngài đă có thể biết và nh́n thấy những ǵ đang diễn ra xung quanh vào thời điểm đó. (Tesu Mahāmoggallāno tuṇhī nisīdi. Āyasmā pana Sarīputto āyasmā samāpajji – tập chú giải Phật Tự Thuyết (Udāna) trang 308). Ta c̣n thấy nhắc đến nhiều hơn trong tập Chú Giải cho là hiện trạng Trưởng Lăo Xá-Lợi Phất (Sārīputta) đă rút vào nhập thiền Jhana chính là thiền chứng (samāpatti) gọi là Upekkha-Brahmavihāra xă phạm trú. Tuy nhiên, có một số soạn giả cho là hiện tượng đó chính là Saññāvadayuitanirodha, có nghĩa là biệt thọ và tưởng. Nhưng cũng có một số soạn giả đưa ra ư kiến chúng ta gọi điều đó là Phalasamāpatti (thiền Quả) dựa trên Thiền Jhana Vô Sắc Giới (formless Absortion) trên cơ sở điều này chỉ căn cứ trên ba vô sắc giới này mà thân xác có thể hoàn toàn được bảo bệ khỏi mọi điều hăm hại và hiểm nguy.

 

Trưởng Lăo Sañjiva.

 

 Đang khi ngài Trưởng Lăo c̣n ngồi nhập thiền diệt thọ tưởng (Nirodhasamāpatti). Một số người chăn ḅ cứ tưởng người đă chết, liền chất đống cỏ khô và củi cùng với phân ḅ lên người và rồi nổi lửa đốt để có thể hoả táng xác của người. Nhưng hóa ra ngay cả một sợi vải y cà sa của ngài cũng không bị ngọn lửa thiêu rụi (đừng nói ǵ đến thân xác của ngài) đây lại là một trường hợp khác nữa về Samādhivipphāra Iddhi tức là Sức Mạnh Bảo Vệ Do Thiền Định đem lại như là kết quả của thiền chỉ (Samatha) đem lại thông qua sức mạnh thiền chứng liên tục (samāpatti) hay miệt mài thiền sâu rộng.

Đây là một bài tường thuật ngắn về Trưởng Lăo Sañjīva trích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) để minh hoạ một sự kiện làm thế nào một sức mạnh như vậy có thể tạo ra áo giáp bảo vệ cho ngài. Chi tiết này cũng được nhắc đến với nhiều chi tiết hơn được t́m thấy trong Kinh Māratajjanīya trong tác phẩm Mūlapaṇṇāsaka thuộc Trung bộ Kinh (16/602 số 559. chuyện kể được ghi lại như sau:

Đă có thời Trưởng Lăo Sañjīva đang rút vào nhập thiền Saññāvedayitanirodha (Diệt thọ tưởng) dưới bóng cây cổ thụ, có một đám người chăn ḅ, chăn chiên, chăn cừu, những dân cày ruộng và những người du hành, nh́n thấy người ngồi ở đó cứ tưởng là người đă chết. Họ kháo nhau. “Ôi các bạn ơi, thật kỳ lạ, vị sa môn này đă chết. chúng ta hăy hỏa táng ngài đi.” Rồi họ gom một ít rác, củi khô và cả phân ḅ chất đống lên người vị Trưởng Lăo và nổi lửa đốt. Vào buổi sáng, vị trưởng lăo xuất thiền (samāpatti, hay là thiền chứng) rũ bụi y cà sa, mặc lại và cầm bát khất thực rồi đi vào ngôi làng kế bên để xin khất thực.

Lúc này những người dân đă hoả táng người, nh́n thấy liền lên tiếng nói với nhau. “Thật là tuyệt vời, các bạn ơi, vị sa môn này đă chết đang khi hành thiền ở đó, lại sống lại, hiện đang sống động trước mắt chúng ta.(nghĩa đen, nhưng lúc này, ngài nhập tâm) “Chính do lời kinh ngạc này mà ngài được đặt tên là Sañjīva (có nghĩa là người trở lại từ cơi chết)

Chuyện kể trên do ngài Trưởng Lăo Moggallāna kể lại, nhưng lại không diễn ra dưới thời Đức Phật c̣n sống. Người ta kể lại rằng sự kiện này đă diễn ra trong quá khứ, dưới thời Đức phật tên là Kakusandha. Câu chuyện được kể lại trong Kinh Pali như sau:

Có một lần kia Đức Thế Tôn đang lưu lại tại Khu Rừng Migadāya. Trong vùng Bhesa-kalavana, thuộc thị trấn Suṃsumārragṅra, bang Bhagga. Trưởng Lăo Moggallāna lúc đó đang bận bịu hành thiền bách bộ nơi một cánh đồng rộng. Ngay lúc đó Ma-vương (Māra) kẻ độc ác lén thâm nhập vào bụng ngài. Vị Trưởng Lăo cảm thấy có điều ǵ đó quá nặng, giống như một ḥn đá hay một cái chảo chứa đầy đỗ trong đó lại nằm ngay trong bụng ngài. Ngài liền đi vào thiền viện và ngồi xuống suy tưởng nhập tuệ giác về điều đang xảy ra nơi ngài. Rồi ngài nh́n thấy Ma-vương (Māra) kẻ xấu bên trong đó. Ngài liền ra lệnh cho Ma-vương (Māra) xuất ra khỏi ngài không được làm hại cho Đức Phật và các vị đồ đệ của ngài. V́ làm vậy sẽ chẳng đem lại lợi ích ǵ cả, nhưng lại có thể đem lại một thời gian dài đau khổ cho chính Ma-vương (Māra).

Nhưng Ma-vương (Māra) kẻ xấu, nghĩ vị Trưởng Lo không thể nh́n thấy nó, liền suy nghĩ thêm rằng chính v́ sa môn đă là đạo sư lâu năm mà không nh́n thấy nó, huống hồ chi người đồ đệ này dứt khoát sẽ không thể nh́n thấy được (Yopissa so satthā sopi maṃ neva khippaṃ janeyya kuto ca pana ayaṃ sāvako jānissati).

Vị Trưởng Lăo tiếp tục nói hậu quả sẽ vô cùng tai hại nếu như ma-vương (Māra) cứ tiếp tục ẩn ḿnh như thế, rất có thể ngài sẽ biết được điều đó. Lúc này ma-vương (Māra) biết được nó không thể lừa gạt vị Trưởng Lăo được nữa liền xuất ra khỏi miệng Trưởng Lăo và đứng kế gần ngay cửa ra vào.

Trưởng lăo Moggallāna nh́n thấy điều đó đă cảnh cáo nó đừng có nghĩ là người đă không nh́n thấy. Rồi ngài nói với kẻ xấu câu chuyện trong quá khứ như dưới đây:

Vào thời xa xưa tôi thường là một kẻ xấu có tên là Dūsī. Cùng với người em gái tên là Kālī. Nhà ngươi là con trai em gái ta, và chính v́ thế nhà ngươi là cháu của ta. Điều đó diễn ra vào thời có một Đức phật tên là Kakusandha, có hai người đồ đệ rất tốt lành tên là VidhuraSañjīva, người thứ nhất có tài thuyết pháp rất giỏi. Thế nên được gọi là Vidhura [5] c̣n người kia luôn luôn chỉ thích rút vào nhập thiền Jhana đạt đến độ gọi là Saññāvedayitanirodha (Diệt thọ tưởng) bất kỳ khi nào ngài đến cánh rừng hay đến bóng cây, hay một ngôi nhà bỏ hoang nào đó, ngài đều có thể thực hiện được điều đó một cách dễ dàng và như ư muốn. Chính v́ thế một lần kia đang khi ngài ngồi trú hiện trạng thiền Jhana sung sướng cao độ dưới bóng cây. Có một số người thấy ngài cứ tưởng ngài đă chết. Chính v́ thế họ đă gom rác, củi và cả phân ḅ và chất đống lại trên người rồi nổi lửa đốt để thiêu xác ngài. Nhưng ngài chẳng hề hấn ǵ cả. Ngay cả y cà sa của ngài cũng không hề bị cháy sém.

Đó chính là chuyện kể trích từ Kinh Pali liên quan đến Trưởng Lăo Sañjīva . Mục tiêu là tỏ cho thấy câu chuyện không diễn ra dưới thời Đức Phật. Nhưng tuy nhiên lại diễn ra vào một thời xa xưa. Sự kiện cho thấy điều này là có thật cho dù đến cả thời đại ngày nay nữa.

 

Sức Mạnh Bảo Vệ Thiền Định Về Phía Trưởng Lăo Khāṇukoṇḍañña

Trưởng Lăo Khāṇukoṇḍañña

 

 Thường có thói quen rút vào nhập thiền định gọi là Thiền Chứng (samāpatti). Thế rồi một đêm nọ đă xảy ra một sự kiện, khi Trưởng Lăo đang mải mê nhập Thiền Chứng (samāpatti) như thường lệ, có một bọn cướp (thực tế gồm tới 500 tên) [6] đội trên đầu rất nhiều của cải cướp được, đi đến một địa điểm đă ấn định. Nhận thấy đă đi khá xa địa điểm gây án, bọn cướp suy nghĩ có lẽ đă được an toàn và muốn nghỉ ngơi đôi chút. Nh́n thấy vị Trưởng Lăo trong bóng tối, chúng tưởng lầm ngài là một gốc cây, v́ vậy cả bọn chất đống toàn bộ chiến lợi phẩm cướp được lên đầu Trưởng Lăo, một khối lượng xem ra rất nặng. Sau khi đă nghỉ ngơi một thời gian khá lâu, bọn chúng đồng ư lên đường và cả bọn đă lấy toàn bộ số đồ cướp được khỏi vị Trưởng Lăo, mà họ cứ tưởng là một vật vô tri vô giác ǵ đó. Đến lúc này, khi bọn chúng vừa định lấy đi của cướp được cuối cùng chúng vứt bỏ lên đầu ngài trước đó, th́ chính xác lúc đó trưởng lăo quyết định xuất khỏi Thiền Chứng (samāpatti). Nh́n thấy “gốc cây” động đậy. Bọn chúng vô cùng khiếp sợ, cứ tưởng là ma hiện h́nh. Và thốt lên những lời hết sức hoảng hốt. Nghe thấy vậy, Trưởng Lăo liền nói với bọn chúng., “Đừng sợ, những người anh em, tôi là một vị tỳ khưu” với những lời đầy an ủi đó, bọn cướp mới bớt sợ và hoàn hồn, nhưng lại hết sức kinh ngạc do sức mạnh che chở của ngài. Bọn cướp hết sức ấn tượng và xin được nhận thọ Đại Giới, sau đó cả bọn đều đạt đến Bậc A-la-hán cùng với Tứ Vô Ngại Giải (paṭisambhidā)

Điều trên đây cho thấy Sức Mạnh Bảo Vệ Thiền Chứng (samāpatti) đă giữ cho ngài khỏi bị hại cho dù biết bao nhiêu vật nặng chất đống lên đầu ngài. Đây l