|
Nguyên
tác: Supra-Mundane, Psychic
Powers PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
7. Abhijjamānodakagamana Pāṭihāriya (Đi Bộ Trên Nước Không Làm Xáo Trộn Mặt Nước)
Những đoạn tiếng Pali như là lời Đức Phật nói liên quan đến loại phép lạ (thần thông) này như sau: “Udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi paṭhaviyam” “ Một vị tỳ khưu đạt được khả năng có thể đi trên mặt nước giống như đi trên mặt đất, không làm khuấy động mặt nước.” Dưới đây là lời giải thích được trích từ tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) “Một chư vị tỳ khưu muốn đi trên mặt nước mà không bị ch́m trong nước.(chân không chạm mặt nước) cần phải nhập thiền Jhana dựa trên đề mục địa biến xứ (paṭhavīkasiṇa) (cho đến khi ngài có được tầm nh́n rơ ràng về điều này và có khả năng kiểm soát được việc ḿnh làm. Khiến cho nước phải tuân theo vị tỳ khưu ấy như ư muốn. Sau khi đă thoát ra khỏi Thiền Jhana.tỳ khưu sẽ gắn tâm ḿnh vào mặt đất và quyết tâm.” Mong rằng mặt nước trong vùng trở nên cứng như đất, thế rồi mặt nước sẽ chuyển đổi và vâng y theo lời của vị tỳ khưu đó khiến cho ngài có thể bước đi trên đó giống như bước đi trên mặt đất vậy.” Đoạn giải thích này lại được kèm theo những đoạn trích trong Kinh Phật (Khu. Pa. 31/593) khẳng định rằng: “Một vị tỳ khưu nhập Thiền Chứng (samāpatti) dựa trên cơ sở đất biến xứ, gắn tâm ngài lên mặt nước và quyết tâm, “Mong rằng mặt nước trong vùng này trở nên cứng như đất” nước sẽ tuân thủ ư muốn của tỳ khưu, chính v́ thế ngài đă bước đi trên đó mà không làm xáo trộn mặt nước. Điều này đă diễn ra giống như một người b́nh thường không có phép thần thông nhưng lại có thể bước trên mặt đất mà không tạo ra bất kỳ rạn nứt nào trên đó.” Dưới đây c̣n có một lời giải thích được đưa ra như sau: “Vị tỳ khưu này c̣n có khả năng không những bước đi trên nước, nhưng c̣n lưu lại trên đó trong bất kỳ tư thế nào, như ngồi hay nằm trên đó.” “ Ngoài ra ngài c̣n có thể biến nước thành pha lê, thành vàng, thành một ngọn núi cao hay là một ngọn cây, hoặc thực tế thành bất kỳ điều ǵ ngài muốn. Ngài chỉ cần thực hiện quyết tâm và nước sẽ phản ứng lại theo như ư ngài muốn.” Đoạn văn Pali mô tả lại sự việc này như sau: Na kevatañca paṭhavīmeva maṇisuvannapabbatarukkhddīsupi yaṃ yaṃ icchati taṃ vuttanayeneva āvajjitvā adhiṭṭhāti yathadhiṭṭhitameva hoti, -- (trích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) 2/232) Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) cũng mô tả rằng: “Nước được biến đổi thành đất cứng thông qua phép thần thông đó chính là đất chỉ dành cho vị tỳ khưu mà thôi. Đối với những người khác th́ mặt nước vẫn y như cũ. Mặt nước đó vẫn có thể là chỗ các sinh vật sống trong đó như cá và rùa, có thể bơi lội cách thoải mái như trước. Có một số loài chim có thể bơi lội trên mặt nước như chim nước (một loại chim dùng để săn bắn) vẫn có thể đi rong ruổi trong đó hoặc lặn xuống như b́nh thường.” “Tuy nhiên, nếu vị tỳ khưu với khả năng thần thông như thế lại muốn biến nước cho cả những người khác nữa, ngài cũng có thể làm được như vậy. Nhưng ngài phải xác định việc này kéo dài trong bao lâu mặt nước cứng như thế. Sau thời gian ấn định, th́ mặt đất được “tạo thành” như vậy sẽ trở lại t́nh trạng ban đầu. Những đoạn viết bằng tiếng Pali như sau: Tasseva ca taṃ udakam paṭhavī hoti sesajanassa udakameva. Macchakacchapā ca udakākākadayo ca tathāruciṃ vicaranti. Sace panāyaṃ aññesampi manussānaṃ taṃ paṭhavī kātuṃ icchati. Karotiyeva. Paricchinnakālātikkamena pana udakameva hoti. – Trích Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) 2/233 Ngài Trưởng lăo Moggallāna muốn thực hiện một phép lạ (thần thông) biến đổi mặt đất, nhưng đă bị Đức Phật ngăn lại và không cho phép. Đến đây lại nổi lên một vấn nạn đang được nghiên cứu phát xuất từ mối nghi ngờ chính đáng của một số người sợ rằng, nếu như nước trong vùng đó biến thành đất cứng để thực sự có thể bước đi trên đó, th́ điều ǵ sẽ xảy ra đối với những động vật sống trong nước? Liệu chúng có thể bị do mặt đất cứng lại hay không? Ta không t́m thấy câu trả lời nào cho câu hỏi này, nhưng có một đoạn trích trong Kinh Phật Đại Phẩm (Mahāvagga 1/11) ở mức độ có thể soi chiếu ánh sáng cho vấn đề này. Bài tường thuật trong Kinh Phật có nội dung như sau: Một lần kia, đang lúc Đức Phật c̣n lưu lại trong thời gian An Cư Kiết Hạ tại thành phố Verañjā cùng với một số vị tỳ khưu rất đông, tổng số lên tới (khoảng) năm trăm vị. Điều này đă khiến cho Đức Phật và các vị tỳ khưu khác gặp rắc rối liên quan đến thực phẩm dùng hàng ngày. Có rất ít người có khả năng dâng cho các tỳ khưu của bố thí v́ dân chúng chỉ có đủ thực phẩm cho chính họ mà thôi. May mắn thay, cuối cùng th́ cũng có một nguồn bố thí được dành cho các vị đó tuy nhiên có hơi ít ỏi một chút. Nguồn này là do đoàn thương gia buôn bán ngựa đến từ thị trấn Uttarāpatha, mang theo với họ khoảng năm trăm con ngựa để bán. Họ đang t́m chỗ ở qua mùa mưa tại thị trấn Verañjā và tiến hành dâng cho mỗi vị sư khoảng độ bốn vốc gạo đỏ (thuộc loại soàng nhất) bất cứ khi nào các vị tỳ khưu không thể xin được của bố thí. Họ có thể chạy đến chuồng ngựa của những thương gia buôn ngựa tại đó họ nhận được phần lương thực dành cho mỗi người. Loại gạo này phải đem giă trong một cái cối và lấy chày giă nát ra trước khi ăn. Chính v́ gạo quá cứng, do thuộc chất lượng xấu. Chính Trưởng lăo Ānanda cũng phải giă gạo bằng cách đó và dâng cho Đức Phật sử dụng. Ngài cũng đă tham gia khất thực giống ư như các tỳ khưu khác. Nh́n thấy điều kiện khốn khổ xảy ra cho Đức Phật và các vị tỳ khưu, Trưởng lăo Moggallāna tiến lại gần Đức Phật và đề nghị với người, nói rằng, “Tâu Đức Thế Tôn, lúc này đang một trận đói xảy ra tại thị trấn Verañjā. Dân chúng đang trong cảnh cực kỳ khổ sở. Các bộ xương (những người chết đói) có thể t́m thấy khắp nơi. Gạo cho dân chúng được phân phối theo định lượng. Điều này đă trở thành cực kỳ khó khăn cho các tỳ khưu đi khất thực có thể kiếm được những ǵ dân chúng dâng tặng. Nhưng dưới mặt đất lại có rất nhiều loại vật nhỏ như là ong. Chúng sạch sẽ. nếu ngài cho phép, Ôi Đấng Thế Tôn, con sẽ lật mặt đất lên để các tỳ khưu có được thức ăn đầy chất lượng.” “Nhưng Moggallāna, thế c̣n các sinh vật sống trên mặt đất này th́ sao (tức là con người và súc vật đang sống trên mặt đất và dưới đó.)? Con sẽ làm ǵ đối với chúng? “ Con sẽ tạo ra một trong hai cánh tay của con mở rộng ra như thể băi đất. Điều này dành cho các tạo vật đó cư ngụ. Rồi con sẽ lật mặt đất lên với cánh tay c̣n lại. (Ekāhaṃ bhante pāṇiṃ abhinimminissāmi seyyathāpi mahāpaṭhavī. Ye paṇhavīnissitā pana. Te Tattha saṇkāmessāmi ekena hatthena paṭhaviṃ parivattessāmīti.)” “Không được đâu Moggallāna, không được hân hoan lật ngược mặt đất lên như thế. Các sinh vật sẽ gặp phải kết quả ngược lại.” Đức Phật phán (Alaṃ Moggallāna mā te rucci paṭhaviṃ parivattetuṃ vipallāsanpi sattā paṭilabheyyunti).” “ Ôi Đức Thế Tôn, rồi sau đó con sẽ sai tất cả các tỳ khưu đến Kurupadīpa để khất thực. (Sādhu bhante sabbo bhikkhusañgho uttarakuruṃ piṇḍāya gaccheyyāti)” “Nhưng điều ǵ sẽ xảy ra đối với các tỳ khưu không có được phép thần thông?” “ Con sẽ khiến họ đi tới đó bằng phép thần thông của con. Ôi Đức Thế Tôn. (Tathāhaṃ bhante karissāmi yathā sabbe bhikkhū gacchissatīti.)” “Không được đâu, xin đừng làm hài ḷng các vị tỳ khưu đi đến khất thực tại Kurupadīpa.” Các đoạn nói đến ở trên mô tả cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Trưởng lăo Moggallāna có ư nghĩa rất lớn cho dù đối với một số học giả hiện đại h́nh như điều đó không chắc chắn đă xảy ra. Nhưng, rốt cuộc những đoạn trên có thể được t́m thấy trong Kinh Phật viết bằng tiếng Pali (cuốn 11. trong 11,12), không thấy có trong các văn bản được viết sau này như các cuốn Chú giải chẳng hạn. Sự kiện này khiến ta đi đến ư tưởng thứ hai và chính xác hơn, có sự phân tích của các nhà hoài nghi đích thực phải đi đến kết luận là nên loại bỏ sang một bên coi như là điều không đáng phải quan tâm. Cuối cùng những đoạn trên xuất hiện để khẳng định chẳng có ǵ cả, tuy nhiên thật lạ kỳ hay khó tin không có thể xảy ra cho một vị tỳ khưu có được khả năng thần thông như vậy.
Nguyên do cơ bản
Lư do khiến Đức Phật ngăn cản Moggallāna không được làm như vậy đă được nhắc đến trong bản văn sau này gọi là B́nh đẳng tính trí (Samantapāsādikā (cuốn 1 trang 208) cho rẳng Đức Phật ngăn cấm Trưởng lăo Moggallāna không được làm như vậy – cho dù Đức Phật dư biết Trưởng lăo Moggallāna thực sự có thể làm được điều đó, chính là v́ ngài nhận thấy nếu một sự kiện như vậy cứ liên tục xảy ra nhiều lần sau này, th́ nhiều người sẽ t́m đến các tỳ khưu để xin họ giúp đỡ với sức mạnh thần thông của ngài và khi các vị đó không thể có mặt ở đó luôn măi để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong thời gian hoạn nạn xảy ra. Với một cách giải quyết ấn tượng như vậy chỉ xảy ra có một lần và chỉ được phép thực hiện có một lần mà thôi, để khi dân chúng nghe biết biến cố đó sẽ không đi t́m kiếm tỳ khưu xin giúp đỡ họ thoát khỏi những cơn hoạn nạn như vậy. Liệu có ai từ chối đến cứu giúp họ chăng? cho dù thực tế có một số các vị Tôn Giả không có được sức mạnh thần thông đó. Rồi dân chúng sẽ xỉ vả và nói xấu họ bằng nhiều cách. Chính v́ các vị tôn giả này đă không thể tiếp cứu họ khỏi cơn hoạn nạn. Hành vi bất xứng của dân chúng như vậy đối với các vị tôn giả chắc chắn sẽ khiến họ phải tái sanh nơi cơi khổ. Chính v́ thế Đức Phật đă không cho phép Trưởng lăo Moggallāna thực hiện phép lạ (thần thông) vào thời điểm đó. Người ta cũng cho rằng một vị tỳ kheo với khả năng thần thông có thể biến đổi nước thành đất cứng cũng có thể đổi nước thành các vật cứng, gồm cả kim loại, như thuỷ tinh, núi, cây cối, nếu ngài muốn như vậy, ngay cả biến nước thành vàng hay thành bất kỳ loại vật chất nào ngài muốn biến đổi, tỳ kheo chỉ cần muốn thực hiện là xong và quyết làm như vậy theo cách đă mô tả ở trên. Rồi nước sẽ được biến đổi theo như ước muốn của tỳ kheo theo khả năng thần thông của ngài.” điều này đọc thấy trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) 2/232 Ta không thấy đề cập đến ví dụ điển h́nh nào về khả năng như vậy trong bản văn trên. Nhưng những bài tường thuật liên quan đến trưởng lăo Pilindavaccha giúp xác định lời tuyên bố trên. Trưởng lăo là một vị A-la-hán có sức mạnh thần thông rất lớn dưới thời Đức Phật tuy nhiên bài tường thuật sau không phải là sự biến đổi nước thành đất, mà chỉ nhằm chứng minh lời tuyên bố “một tỳ kheo với sức mạnh thần thông có thể biến đổi bất kỳ điều ǵ sang một điều ǵ đó.
Trưởng lăo Pilindavaccha chuyển đổi vật chất cơ bản thành vàng.
Một buổi sáng nọ trưởng lăo đi khất thực tại một ngôi làng là nơi ngài thường xuyên đến thăm mỗi ngày. Vào thời điểm trong làng có tổ chức nhiều tṛ vui chơi giải trí, với trẻ nít được trang điểm bằng hoa và các đồ trang sức và đến thưởng thức những cuộc biểu diễn. Ngài trưởng lăo đă đi từ nhà này sang nhà khác cho tới khi ngài đến nhà một người làm công quả tại một thiền viện và ngài ngồi vào chỗ dành riêng cho ngài. Tại đó ngài bắt gặp một đứa con gái đang khóc, con bé là con gái của chủ ngôi nhà đó. V́ ḷng bi mẫn ngài liền hỏi mẹ cô bé xem tại sao nó lại khóc như vậy. Người mẹ trả lời vị trưởng lăo, nói rằng. “Con gái tôi thấy các đứa trẻ khác đang thưởng ngoạn những cuộc tŕnh diễn và được trang điểm bằng hoa và nữ trang. Cháu cũng muốn đi đến tham gia, nhưng lại không có ǵ để trang điểm cả. Con gái tôi đă xin mẹ nó, nhưng tôi bảo sao một người nghèo như chúng ta có thể bỏ tiền ra mua cho con gái những đồ đó. Chính v́ thế mà cháu buồn và khóc nức nở. Biết được sự việc như vậy, Trưởng lăo Pilindavaccha nhặt lên một nắm cỏ khô gần đó và đưa cho mẹ cô gái, nói rằng, “Hăy đeo vào cổ cho con gái bà đi.” Người mẹ làm y như trưởng lăo nói. Ngay khi bó cỏ đụng tới đầu bé gái, th́nh ĺnh biến thành một sợi giây chuyền hảo hạng. - c̣n tốt hơn nhiều so với những ǵ có trong kho bạc hoàng gia.(đoạn này viết bằng tiếng Pali như sau: Atha kho sa ārāmikini taṃ tiṇṇadūpakuṃ gahetvā tassā dārikāya sise paṭimuñci. Sā ahosi suvaṇṇamālā abhirūpā dassaniyā pāsādikā. Natthi tādisā raññopi antepure suvaṇṇamālā. – Trích trong Đại Phẩm (Mahāvagga) thuộc bộ Luật Tạng 2/120) Điều xảy ra mơ cũng không có được và điều đó đă được đồn thổi và lan truyền đi khắp nơi từ miệng người này sang miệng người khác. Sau đó ít lâu có một nhóm dân làng đến tâu nhà vua Bimbisāra. Họ tố cáo gia đ́nh cô bé đă ăn trộm thứ đó từ dâu đó, nói rằng “Một cô gái trong một gia đ́nh đi làm công quả cho một thiền viện th́ lấy đâu ra tiền để mua được một ṿng hoa bằng vàng đẹp đến như vậy. Ngay cả trong kho bạc nhà vua cũng chẳng t́m đâu ra. Họ thuộc gia đ́nh nghèo th́ làm sao có thể có được một đồ quí giá đến như vậy, nếu như không phải họ đă đánh cắp ở đâu đó?” Nghe kể sự việc như vậy. nhà vua ra lệnh trói các thành viên trong gia đ́nh lại và dẫn đến cho nhà vua hỏi cung. Buổi sáng hôm sau vị trưởng lăo cũng đi khất thực như thường lệ tại nhà người làm công quả cho thiền viện. Không thấy ai ở nhà. Ngài liền hỏi những người làng xem họ đi đâu cả rồi mà bỏ nhà vắng tanh như vậy. Dân làng cho hay họ đă bị tố cáo ăn cắp ṿng vàng cho con gái đeo vào ngày hôm trước. Sau khi được thông báo như vậy, vị Trưởng Lăo tiến đến hoàng cung. Tại đó ngài được mời ngồi vào chỗ riêng dành cho ngài. Khi vua Bimbisāra biết có Trưởng Lăo đến thăm liền đến tỏ ḷng tôn kính ngài và ngồi ngay bên cạnh gần vị Trưởng Lăo. Trưởng lăo Pilindavaccha nói với nhà vua, “Thưa hoàng thượng, gia đ́nh này đă làm điều ǵ sai trái đến nỗi các thành viên trong gia đ́nh lại phải xiềng lại như thế kia.” Nhà vua lên tiếng, “Thưa ngài Trưởng Lăo, ở nhà họ có một sợi dây chuyền bằng vàng rất đẹp và quí giá đến nỗi không có ǵ so sánh được ngay cả trong kho bạc hoàng cung cũng không t́m đâu ra. Làm sao họ có dược điều quí giá đó v́ họ quá nghèo và thiếu thốn đến như vậy, chẳng phải do họ đă đánh cắp đâu đó hay chăng?” Nghe thấy những lời nhà vua vừa nói, Trưởng Lăo liền quyết định thông qua sức mạnh thần thông của ngài, th́nh ĺnh ngài biến toàn bộ sảnh đường của nhà vua thành vàng. Ngay sau đó toà sảnh đường của nhà vua liền biến thành vàng, theo y như ư muốn sức mạnh của trưởng lăo. Rồi ngài Trưởng lăo hỏi nhà vua, “Thưa Hoàng Thượng, làm sao Ngài lại có được những thứ đó, một lượng vạng nhiều đến như vậy? “(đoạn viết bằng tiếng Pali như sau: Attha kho āyasamā Pilindavaccho rañño Māgadhassa seniyassa Bimbisārassa pāsādaṃ suvaṇṇanti adhimucci. So ahosi sabbaso suvaṇṇamamayo Idaṃ pana te mahārājjātāvabahuṃ suvaṇṇaṃ kutoti.) Điều này đă hoàn toàn thuyết phục được nhà vua, ngài liền nói. “Giờ th́ tôi hiểu, thưa ngài Trưởng Lăo kính mến, trường hợp này hoàn toàn là kết quả của sức mạnh thần thông của ngài mà ra” Rồi nhà vua cho tha những thành viên gia đ́nh người làm công quả cho thiền viện. Miễn cho họ khỏi truy tố về tội ăn cắp.(đoạn văn Pali viết như sau: Aññataṃ Bhante ayyasseveso iddhānubhāvoti taṃ ārāmikulaṃ muñcāpesi .--- Trích trong Đại Phẩm (Mahāvagga) thuộc Tạng Luật 2/121) Trường hợp trên của Trưởng Lăo Pilindavaccha dùng để khẳng định tuyên bố cho rằng đối với một vị tỳ khưu đạt được những sức mạnh Thần Thông như vậy th́ bất kỳ điều ǵ cũng được biến đổi sang bất kỳ điều ǵ theo ư muốn của ước mơ trổi vượt của ngài.
Lời Tuyên Bố của Trưởng Lăo Xá lợi Phất (Sāriputta)
Đối với những ai muốn có thêm bằng chứng, bài tường thuật trích trong Kinh Phật sau đây (cuốn 22 trang 312 (Kinh Hathisārīiputta trong cuốn Chakkanipāta, thuộc Tăng Chi Bộ Kinh) có thể giúp họ đạt đến mục tiêu trên. “Đă có lần Đức Phật đang lưu lại trên núi Gijakūṭa (ngọn núi chim kền kền) gần thành phố Rājagaha. Chính vào một buổi sáng, sau khi ngài Trưởng Lăo Xá-lợi Phất (Sāriputta) đă mặc y cà sa, liền xuống núi đem theo bát khất thực cùng với một số các vị tỳ khưu. Nh́n thấy một đống củi chất đống trước mặt, ngài liền hỏi các vị tỳ khưu xem họ có nh́n thấy đống củi trước mặt hay không. Khi nghe họ trả lời khẳng định, ngài liền tiến hành nói với họ những lời sau đây: “ Ôi anh em thân mến, một vị tỳ khưu đạt được phép thần thông, và có ư muốn tâm linh (fluency), nếu người đó muốn, ngài có thể biến đổi đống củi đó thành đất một cách tức th́. Tại sao thế? Đó chính là nội trong đống củi đó đă có mang địa giới. Cũng cách đó nếu ngài muốn đống củi biến thành nước, lửa hoặc không khí, nó tức khắc liền biến thành thành tố này thành tố nọ ngay. Tại sao thế? Đó chính là trong đống củi đó đă chứa sẵn các thủy hỏa và phong giới. Hơn thế nữa, ngài c̣n có thể tạo ra một điều ǵ đó rất đẹp hay rất xấu nếu ngài muốn. Điều này xảy ra là v́ trong đống củi đó cũng có chứa cả thành tố đẹp (Subhadhātu) và thành tố xấu (Asubhadhātu) trong đó.” Cho dù lời khẳng định trên là của Trưởng Lăo Xá-lợi Phất (Sārīputta), chứ không phải của Đức Phật, nhưng không kém nặng kư như chính những lời của Đức Phật, là v́ cũng c̣n thấy có những lời nói khác của chính Đức Phật hoàn toàn để khẳng định sự kiện này. Điều quan trọng hơn là có một yếu tố rất hấp dẫn và giá trị cần phải lưu ư trong câu nói này. Đó chính là theo Phật giáo, trong vật chất, cho dù là chất cứng, chất lỏng hay chất khí. Tất cả những cái được gọi là thành tố đều có trong đó là đất, nước khí và lửa. Bản chất cứng xuất hiện nhiều hơn khiến cho vật đó cứng là v́ nó chứa đặc tính cứng (đất) rơ nét hơn các đặc tính khác. Cũng giống như vậy chất đó là lỏng hay là nước là v́ nó chứa thành tố gọi là nước rơ nét hơn các thành tố khác, nhưng vẫn tồn tại trong vật chất đó dưới một dạng được khống chế theo một tỷ lệ nhất định nào đó.
Lời công bố của Đức Phật
Một sự kiện đáng lưu ư khác liên quan đến phép thần thông được ghi lại trong tác phẩm Chakkanipāta thuộc Tăng Chi Bộ Kinh trong Kinh Phật (cuốn 22. trang 346 số 295) Các đoạn được coi như là các lời dạy của Đức Phật như sau: “Ôi các vị tỳ khưu thân mến, nếu một trong số các vị được phú cho sáu phẩm chất sau đây, nếu vị đó muốn, tiêu huỷ cả núi Hymalaya cũng được chỉ trừ có điều xấu được gọi là Vô minh (avijja) mà thôi. Ôi tỳ khưu, sáu điều đó là ǵ thế? đó là: 1. Một tỳ khưu trong tăng già có tài khéo trú vào thiền. 2. Ngài có khả năng ổn vị thiền một cách nhanh chóng. 3. Ngài có khả năng thoát khỏi hành thiền. 4. Ngài có khả năng thuần thục (fluency) thiền chứng. 5. Ngài có khả năng trong những t́nh huống dẫn đến nhập thiền. 6. Ngài có khả năng đặt được các sức mạnh thần thông và gây ấn tượng do kết quả hành thiền đem lại. Ta cần phải lưu ư từ những điều kể trên là vị tỳ khưu nào đạt được sáu phẩm chất đó chẳng có ǵ khác với vị tỳ khưu đă đạt được tính thuần thục tâm (iddhima cetovasippatto) như đă đề cập đến ở trên. Nếu ta liên hệ điều này với lời phán quyết của Trưởng Lăo Xá-lợi Phất (Sārīputta)về hiệu quả một vị tỳ khưu tầm cỡ đó đạt được, nếu ngài muốn, ngài có thể biến cả một đống củi trở thành đất hay nước, th́ ta thấy ư nghĩa được làm rơ ở đây. Tuy nhiên, có một vấn đề về ư nghĩa của từ Pali được dùng trong câu là số bốn tức là ‘kallata’ trong đoạn “Samādhissa kallatākusalo hoti”, có nghĩa là có khả năng thuần thục “hành thiền”. Từ ‘kalla’ tạo ra một vấn đề đó là phải giải thích làm sao để biết chính xác từ đó muốn ám chỉ điều ǵ. Trong bản văn gọi là Manorathapūraṇī một trong những bản văn chú giải, chỉ có một đoạn giải thích ngắn ngủi như sau “Samādhissa Kallatākusaloti Samādhissa Kallatāya kusalo. Samādhicittaṃ hāsetuṃ kallaṃ katuṃ sakkotīti attho.” Có nghĩa là có được tài xoay sở ‘kalla’. Lời giải thích này xem ra không rơ ràng. Chính v́ thế mà vấn đề vẫn là ở chỗ từ ‘kalla’ c̣n hàm chứa nhiều ư nghĩa khác có thể được hiểu ra. Trong tự điển Pali-Anh do giáo sư Tiến sĩ Rhys Davids, ta đọc thấy những ư nghĩa sau: 1. khỏe, khoẻ mạnh, lành mạnh; 2- giỏi, có khả năng, khéo léo; 3. sẵn sàng, được sưả soạn; 4. thích hợp, tương ứng, đúng. Thí dụ như: Kallakusala = tài khéo lành mạnh. Với những ư nghĩa đa dạng như ở trên, vẫn c̣n một vấn đề là làm thế nào để chọn cho được cách giải thích tốt hay hoàn hảo nhất. Đương nhiên quyết định của tôi chỉ mang tính cách tùy chọn trong việc lựa chọn cách giải thích ư nghĩa từ Fluency mà thôi, đó chính là nó mang ư nghĩa chỉ một khả năng hay là một kinh nghịêm nào đó trong vấn đề rút vào và thoát ra khỏi, nhập thiền cũng c̣n có khả năng quyết định và thay đổi đề mục thiền. Những điều này cũng c̣n hàm chứa cả kinh nghiệm hướng tâm về việc thực hiện các phép lạ (thần thông) nữa. Liên quan đến phẩm chất thứ sáu tức là phẩm chất cuối cùng được nhắc đến ở trên. Như đă được giải thích trong tập Chú Giải đó là: vị tỳ khưu đó phải có khả năng rút vào những mức độ hành thiền đậm đà cho đến khi đạt đến mức độ cao nhất. Các đoạn nói về điều này viết bằng tiếng Pali như sau: Samādhissa abhinihārakusaloti upari samāpattisamāpajjjanatthāva paṭhamajhānādasamādhi abhunihārituṃ sakkonto samādhisa abhinihārakusalo nāma hoti. So paṭhamajhānā vuṭṭhāya dutiyaṃ samāpajati dutiyajjyhānā vv…. tatiyajjhānāya vuṭṭhāya catutthaṃ samāpajjatīti. Trích trong tác phẩm Manoratthapūraṇī 3/ 122 Từ ‘Abhinihāra’ nghĩa đen là “hướng tới một cách mạnh mẽ” cần được so sánh với cùng một từ được dùng ở các nơi khác. Để có thể nắm được hiểu biết rơ hơn về ư nghĩa của nó. Đó là các đoạn “ Một vị tỳ khưu với tâm nhập thiền được thanh tịnh. v.v….hướng tâm của ḿnh tới việc Nhớ Lại Tiền Kiếp . . .” các từ Pali như sau: pubbenivāsānusssatiñāanṇāya cittaṃ abhinīharati abhinināmeti. Từ ‘abhinīhara’ và ‘abhivūharati’ có cùng một ư nghĩa, chỉ khác là từ trước là một danh tự c̣n từ sau là động tự. V́ thế cả hai đều mang ư nghĩa là thông qua ứng dụng sức mạnh tâm có được qua nhập thiền hướng về một mục đích như vậy. Có thể là khả năng Nhớ Lại Tiền Kiếp hay là bất kỳ loại trí ñāṇa nào khác (có nghĩa là Tuệ giác), như vậy đoạn này có nghĩa là “ Khả năng Abhinīhara thiền nên hiểu là một tỳ khưu đạt được khả năng thuần thục tâm linh (cetovasippatto). Trong bất kỳ hướng nào ngài ra một quyết tâm áp dụng sức mạnh hành thiền của ḿnh, kết quả sẽ có được ngay lập tức dưới dạng thần thông (Abhiñña) ngài muốn thực hiện. Đây là lư do tại sao Đức Phật khẳng định sự thật, tuyên bố điều đó. Giống như tiếng sư tử rống, hậu quả là một vị tỳ khưu đạt được khả năng thuần thục tâm phải có được phẩm chất chung cuộc quan trọng nhất đó là khả năng “Abhinīhara - thiền”.
Những Nghi Ngờ Tiếp Theo
Giờ đây, đối với những người có thể chấp nhận khả năng có được những Thần Túc Thông (Iddhividhi), một câu hỏi xuất phát từ mối nghi ngờ thuần tuư có thể xuất hiện ở dây một lần nữa: liệu những thực thể “được sáng tạo” hay “được biến đổi” có thể tồn tại luôn hay chỉ tồn tại lúc đó sau rồi th́ thôi? Điều này ám chỉ sợi dây chuyền bằng vàng, có được thể hiện dưới dạng một triều thiên bằng vàng đội lên đầu cho cô bé con của người làm công quả cho thiền viện. và sảnh đường của nhà vua Bimbisāra – cả hai đều được tạo ra do phép thần thông của ngài Trưởng Lăo Pilindavaccha. Đương nhiên, đây là những câu hỏi cần được nghiên cứu có thể nổi lên nơi một số người, hay nhiều người muốn t́m hiểu nhiều hơn và muốn biết những chi tiết khác nữa liên quan đến cả hai vấn đề là điều dễ hiểu. Với câu hỏi trên, tiếp theo là một câu hỏi khác không kém phần hấp dẫn đó là: Tại sao những vị A-la-hán đạt được sức mạnh thần thông như vậy thực sự có khả năng tạo ra bất kỳ điều ǵ? Tại sao họ không tạo ra biết bao nhiêu đồ với một số lượng lớn đề đáp ứng nhu cầu của nhiều người trên toàn thế giới như là: mùa màng, thực phẩm và các loại tài sản khác hay những đồ quí giá khác. Toàn bộ những thứ đó xuất phát từ ḷng thương sót đối với những người nghèo và những người thiếu thốn khắp nơi trên trái đất này? V́ điều này có thể cứu được nhiều người thoát khỏi khó khăn khốn nạn họ phải chịu đang khi phải chật vật t́m kiếm của ăn để nuôi sống bản thân. Thẳng thắn mà nói, đây chính là lô-gic hay lư do chắc chắn sẽ thấy nổi lên nơi một số những nhà tư tưởng hiện đại v́ họ không hài ḷng với bất kỳ điều ǵ được mô tả trong Kinh Pali như là chính những lời của Đức Phật có thể dùng làm câu trả lời hoàn hảo cho một nghi ngờ như vậy.
Đức Phật có thể biến cả một ngọn núi đá vững chắc trở thành một núi vàng
Một lần kia Đức Phật đang lưu lại trong một túp lều trong rừng, bên cạnh dẫy núi Hymalaya, trong vương quốc Kosala. Đang khi ngài c̣n lưu lại hành thiền, th́ một ư tưởng xuất hiện trong tâm ngài là nếu như ngài được lên ngôi vua một cách chính trực, không gây phiền hà cho bất kỳ ai hay khiến người khác gây phiền hà cho bất kỳ người nào, không xâm phạm đến tài sản của bất kỳ ai hay để cho ai đó xâm phạm đến tài sản của người khác và không gây phiền hà cho bất kỳ ai, mà cũng không để cho ai phải phiền hà đến người khác. “Nếu như tất cả những điều này có thể xảy ra cho tôi?” ngài nghĩ tiếp. Ngay lúc đó, Ma-vương (Māra) tên ác ma biết được ư nghĩ của Đức Phật thông qua ư tưởng (đọc được ư của người khác) liền tiến lại gần Đức Phật và đă đề nghị những lời sau đây. “Mong rằng Đấng Thế Tôn tiến lên ngôi vua. Mong rằng việc ngài tiến lên chiếm lấy ngai vàng là điều tốt: Ngài thật xứng đáng làm điều đó lắm chứ.” Ma-vương (Māra) tên ác ma nói như vậy, Đức Phật liền hỏi hắn, nói rằng, “Ôi Ma-vương (Māra) tên ác ma, thế nhà người nh́n thấy ǵ trong ta, mà khiến cho nhà ngươi nói như vậy?” Ma-vương (Māra) trả lời, “Ôi Đức Thế Tôn, đó là Tứ Thần Túc (iddhipada),.. ngài đă vun trồng xưa nay, khiến nên giống như chiếc xe luôn lúc nào cũng sử dụng được, chính v́ thế đă trở nên rất thuận tiện. Ngài đă kiên tŕ tu luyện bốn phẩm chất đó. ngài đă kinh qua được chúng. Dù Ngài có muốn ngọn núi gọi là Himalaya biến thành vàng, th́ ắt sẽ y như lời ngài nói vậy. Chính v́ thế ta đă mời ngài tiến lên nắm ngôi vua. Ôi Đức Phật thế tôn.” Đoạn trên được viết bằng tiến Pali như sau: Bhagavato so bhante cattāro Tứ Thần Túc (iddhipādā) bhāvitā bahulīkutā yanikatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā ākañkhamāno pana bhante bhagavā himavantaṃ pabbatarrājaṃ suṣantveva adhimucceyya suvaṭṭantveva adhimucceyya suvaṭṭapabbatassāti) Để trả lời cho Ma-vương (Māra) Đức Phật lên tiếng: “Ngay cả toàn bộ ngọn núi này có thể biến thành vàng ṛng tỏa sáng và tăng số lượng gấp đôi cũng chẳng đủ cho một con người (không có tư tưởng đủ trong tâm những ai quá tham lam.) Sau khi phát hiện ra điều này một người vẫn b́nh thản, tại sao một người, sau khi đă nhận ra những đau khổ gây ra cho người khác (do tham lam) do thú vui nhục dục, lại hướng tâm ḿnh vào đó làm ǵ? “Một người đă biết Upadhi (tức là thú vui nhục dục) là trở ngại trên trái đất này nên t́m hiểu từ bỏ upadhi là như thế nào.” Thấy phản ứng của Đức Phật như vậy, khiến cho tên ác ma (Ma-vương (Māra) đau khổ và hối hận, nghĩ rằng, “Đức Thế Tôn đă biết rơ tôi. Ngài thông suốt đă đọc được tâm của tôi!.” Hắn liền biến mất. Câu chuyện trên được trích trong cuốn 15 trang 169 số 475 trong Kinh Pali. Dùng để xác định lại một lần nữa một sự thật là: nếu ngài muốn Đức Phật có thể biến đổi toàn bộ núi Himalaya thành vàng. Nhưng ngài đă không làm thế và sẽ không làm như vậy bao giờ, làm như thế v́ lư do ngài đă nói với Ma-vương (Māra) là tên tội lỗi. Đối với những ai lúc nào cũng luôn nghi ngờ, một ư tưởng có thể nổi lên đó là chính Đức Phật rất có thể đă không làm được điều đó. Nhưng nếu chúng ta nhớ lại ngay cả các vị đồ đệ A-la-hán của ngài như tỳ khưu Pilindavaccha cũng có thể làm được điều đó, th́ chẳng c̣n ǵ phải nghi ngờ Đức Phật lại không thể biến cả ngọn núi trở thành vàng, trừ việc một số người cho là những bài tường thuật về Pilindavaccha chỉ là những điển h́nh hay những điều hoàn toàn do tưởng tượng mà ra. Một thái độ tâm như vậy của một số Phật tử thường nhằm để làm giảm giá trị những ân đức của Đức Phật và các đồ đệ A-la-hán của ngài mà thôi. Nhưng mục tiêu của tác phẩm này đầu tiên lại dựa vào tính trung thực của những ǵ được tường tŕnh lại trong Kinh Phật liên quan đến khía cạnh này của Phật giáo. Khả năng hay nói khác hơn, những sức mạnh thần thông này sẽ được nói đến sau cho dù ư kiến của tác giả cho là chúng có thể dựa trên sự thật chứ không phải ảo tưởng.
|
|