NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 

                                                               Nguyên tác: Supra-Mundane, Psychic Powers
                                                
 Tác giả:       Phorn Ratanasuwan
                                               
  Dịch giả:     Tỳ khưu Thiện Minh

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8. Ākāse Pallaṇkekamapāṭihāriya (Bay bổng lên trời trong tư thế ngồi thiền)

 

Đoạn Kinh Pali về những lời Đức Phật dạy điều này như sau:

Ākāsepi pallaṇkanakamati seyyathāpi pakhīsakuṇo.

“Một vị tỳ khưu được phú cho sức mạnh có thể khiến cho chính ḿnh bay bổng lên đang khi trong tư thế ngồi. Giống như loài chim có cánh vậy.”

Đoạn Pali chỉ nói đến tư thế ngồi xếp bằng, nhưng phải hiểu là những tư thế thân khác như đứng hay nằm cũng được kể đến. Hơn thế nữa, ngài c̣n có khả năng di chuyển đến phía trước hay ngồi bất động trên không tuỳ ư muốn. Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) (2/233) mô tả chi tiết này như sau:

“ Một tỳ khưu đạt được khả năng thần thông này cùng với phép Cetovasi có nghĩa là thuần thục tâm lại muốn thực hiện phép lạ (thần thông) này chỉ cần nhập Thiền Jhana dựa trên Paṭhavī, có nghĩa là Đất. Sau khi đă thoát khỏi thiền, ngài có thể ra quyết tâm, xác định không gian ngài định ngồi thiền hay có thể giữ nguyên ở bất kỳ vị thế nào và biến đổi thành đất cứng. Điều này có nghĩa là ngài muốn ngồi trên không, đang khi di chuyển về phía trước giống như con chim đang bay (sace nisimo gantumicchati pallañkappamanaṃ ṭhānaṃ parichinditvā parikammaṃ katvā vuttanayeneva adhiṭṭhātabbaṃ v.v.. saha adhiṭṭhānā paṭhavīyeva hoti)

Trong trường hợp ngài muốn nằm xuống đang khi di chuyển (sace nippanno gantukamo hoti) hay bách bộ (sace pādasā gantukāmo hoti) ngài chỉ xác định vùng nào ngài nằm hay bước đi. Muốn có được đất cứng. Rồi ngay đó sẽ biến thành đất cứng theo y như ư muốn của ngài.

Sau khi đă giải thích như vậy, tác giả đă trích dẫn đoạn dưới đây trong kinh Pali.

“ Một tỳ khưu đạt được sức mạnh thần thông cùng với thuần thục tâm có thể ngồi xếp bằng đang khi di chuyển trên không giống như những con chim có cánh” Điều này có nghĩa là vị tỳ khưu này phải đạt đến Thiền chứng (samāpatti) dựa trên cơ sở là đất Kasina.Trước khi làm được như vậy ngài phải quyết tâm về không khí và thực hiện một dốc quyết bằng khả năng ư chí, Muốn điều đó biến thành đất, th́nh ĺnh không khí biến thành đất và ngài có thể lưu lại trong đó với bất kỳ tư thế nào giống như những tư thế một người thường có khi ngồi trên đất cứng. Những đoạn viết bằng tiếng Pali như sau: Pakatiyā paṭhavīkasiṇasamāpattiyā lābhī hoti ākāsaṃ āvajitvā ñāṇema adhiṭṭhāli paṭhavī hotūti, paṭhavī hoti, so ākāse antalikkhe cahikamatipi tiṭṭhatipi nisīdatipi seyyampi kappenti evameva so iddhimā cetavasippatto ākāse antalikkhe cañkamati .v.v..ṣeyyampi kappeti... – (trích trong Thí Dụ Kinh (Apādāna) thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddakanikāya) 31/594)

Từ những đoạn kể trên, một điều rất rơ ràng là: để thực hiện được phép lạ (thần thông) này một vị tỳ khưu phải đạt được thành công trong đề tài thiền này có nghĩa là Kasiṇa đất. Ngài phải thực hiện điều này cho tới khi ngài đă cảm nghiệm được đầy đủ trong đó đi đôi với với khả năng thuần thục trong việc nhập thiền và thoát ra khỏi thiền và nhiều điều khác nữa. Điều này muốn ám chỉ năm Vasi hay là thuần thục. Có nghĩa là Cetovasippatto. Tuy nhiên, trước khi làm được vậy, ngài phải đạt được khả năng bay bổng lên không. Khả năng này không được mô tả ở đây đă thực hiện được bằng cách nào. Rất có thể đây là điều thất bại v́ như đă nói ở trên trong một số nơi khác như là chính những lời của Đức Phật khi ngài giải thích cho Trưởng Lăo Ānanda trước đó: để làm thế nào ngài đă có thể chuyển thân xác của ngài sang cơi thiên đàng Phạm Thiên. Điều này được thực hiện bằng cách gọi là SukhasaññaLahusañña có nghĩa là tưởnghạnh phúc và tưởng nhẹ nhàng.

Không có ví dụ nào được trích dẫn trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) cho thấy ai thường thực hiện được điều này và trong không gian và thời gian như thế nào. Để thực hiện được những bài tường thuật hoàn hảo tôi chỉ c̣n biết cung cấp cho quí vị câu chuyện trích trong Bài Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) sau đây:

 

Đức Phật đi trên không

 

Câu chuyện này là một trích đoạn trong phép song thông (Yamakapāṭihāriya) (tức là một người hiện diện ở hai nơi cùng một lúc.) Đoạn văn Pali như sau: Satthā ākāse ratanacañkamanaṃ, māpesi: Đức Thế Tôn đă tác tạo Chánh Đạo (lối thánh) để hành thiền bách bộ trên không. (Trích trong Phật Phẩm (Buddhavagga) Pháp Cú Kinh (Dhammapada).

Vẫn c̣n một đoạn Pali khác nữa như sau: Idaṃ pana pāṭhātriyaṃ satthā tasmiṃ cañkame cañkamitvā akāsi.

Đoạn trên khẳng định rơ Đức Phật đă thực hiện ‘Kinh Hành” (Cahkamana) nghĩa là di chuyển qua lại trên không. Trong tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada) đă đưa ra nhiều chi tiết rất tỷ mỉ. Nhưng vào lúc này, tác giả muốn trích dẫn những ǵ đă được mô tả trong cuốn sách có tựa đề là ‘Paṭhamasambodhikathā do vị đại giáo chủ Thái Lan là Somdet Kromphra Paramānujjitajinorasa (viết bằng tiếng Thái với một văn phong hoành tráng) như sau:

“Với mục tiêu nhằm chứng minh khả năng thần kỳ làm phương tiện qua đó mà khuất phục những kẻ đi theo dị giáo ngạo mạn, thông qua khả năng thần thông Đức Phật đă tạo một chánh đạo (lối thánh) để hành chánh thiền, suốt chiều dài con đường đó con người ta không thể nh́n thấy hết. Với những ngọn núi cao như có trụ cột nâng đỡ và những tinh tú trong vũ trụ đó như đang chiếu sáng ṿm trời rực rỡ. Mặt trăng, mặt trời trong toàn cơi khoảng không đó đă toả sáng khắp nơi, trong khi đó chánh đạo hành thiền chỉ tựa như những hạt cát vàng long lanh.

Đức Thế Tôn sau đó đă nhập tứ thiền , nhờ sức mạnh thần thông ngài đă bay bổng lên không trung, tiến hành di chuyển qua lại trên chánh đạo hành thiền thánh ngài đă vạch ra, sở dĩ ngài làm được như vậy là do bởi ngài đă đạt đến Paṭhavīkasiṇa (có nghĩa là địa kasiṇa) tiếp theo ngài đă tạo ra hóa thân (replica) tức mô h́nh sao chép chính bản thân ngài để thực hiện nhiều chức năng khác nhau. Một dịp kia Đức Phật đang hành thiền đi bộ qua lại. Trong khi đó hóa thân (replica) của ngài lại đang nằm yên. Lại một dịp khác nữa Đức Phật đă hỏi thần thân của ḿnh nhiều điều, và đă nhận được nhiều câu trả lời quí báu. Sau đó ngài dang cánh tay ra để đụng tới mặt trời và mặt trăng, trong khi đó hóa thân lại đang thuyết pháp.

Sau khi đă thực hiên từng đó phép lạ (thần thông) bằng nhiều cách khác nhau, Đức Phật muốn thể hiện đến tột đỉnh Phép song thông đó (hiện diện ở hai nơi cùng một lúc.), một điều độc nhất vô nhị ngài đă làm được, v́ không có mặt tại thị trấn nơi có một số đồ đệ của ngài đang có mặt. Với dụng trong tm, ngài nhập thiền chứng(samāpatti) dựa trên kasiṇa nước (tvn?). Sau đó ngài thoát thiền rồi lại nhập thiền chứng(samāpatti) dựa trên kasina lửa. Tức th́ có một tia nước kèm theo với một tia lửa phun ra ngay trên đầu ngài. Một khoảng thời gian sau đó từ thân xác ngài toát ra nhiều tia lửa ở phía đàng trước, đồng thời nhiều tia cũng chảy ra ở phía sau lưng. Sau ít phút hiện tượng này lại thể hiện ngược lại với lửa toát ra ở sau lưng c̣n nước phun ra ở phía trước v.v…

Sau khi Đức Thế Tôn đă thực hiện Phép song thông đó bằng nhiều cách ngài đă từ trời xuống ngồi trên ngai vàng cao khoảng một do tuần (Yojana). Ngai vàng tối cao đó ngự ngay trên đỉnh ngọn cây xoài của một người tên là Gaṇḍāma. Ngay chính giữa một đám đông người từ khắp tứ phương thiên hạ qui tụ lại và cùng tiến về một hướng kéo dài trên một quăng đường tới bốn mươi hai do tuần (Yojana). Lúc này Đức Thế Tôn ngồi trên ngai mặt hướng về phía đông, đang khi đó bằng tm nhăn ngài đăm chiêu dơi theo mọi khả năng giác ngộ của chúng sanh nơi cơi trần gian lẫn cơi thiên cung. Ngài thực hiện điều này trước khi chọn lấy bài thuyết pháp tích hợp nhằm đáp ứng mọi xu hướng của mọi chúng sanh đang có mặt tại đó. Người ta kể lại rằng sau bài thuyết pháp đó nhiều chúng sanh đă lắng nghe bài đó đă chứng thánh Đạo và đạt Chánh Quả con số lên đến bốn mươi bốn Koti[1]vào thời điểm đó. Nhưng có sáu thiền sư theo tà đạo (họ đă chủ trương những tà kiến hết sức độc hại) cùng với đoàn tuỳ tùng đă vô cùng khiếp sợ do sức mạnh của Đức Thế Tôn đă tỏ ra. giống như một đoàn nai đông đảo chúng đă hoảng sợ và trốn chạy trước chúa tể rừng xanh. tức là con sư tử, đang đứng hiên ngang dơi nh́n theo chúng trên đỉnh vách đá.

Đoạn văn trên do cố Trưởng Lăo Krom Phra Paramānujitajinorasa biên soạn là một trong những tác phẩm giá trị thuộc loại này. Trước thời gian cố Trưởng Lăo Somedej Kromphrraya Vajirañāṇavarosa, tác phẩm này được coi như là một cuốn sách ‘Tiểu sử Đức Phật‘ thuộc loại có uy tín và được sử dụng rộng răi làm đề tài cho nhiều bài thuyết pháp dành cho dân chúng Thái khắp đất nước. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua dân chúng lại có khuynh hướng không tin vào các bài tường thuật về các Thần Túc Thông được kể lại trong cuốn sách đó. Biết được sự kiện này ngài cố Trưởng lăo Vajirañāṇvarasa lại bắt đầu viết một cuốn khác về cuộc đời Đức Phật, trong cuốn sách này các chi tiết viết về phép lạ (thần thông) được loại bỏ hầu hết. Tác phẩm của ngài được coi như là một trong số những tác phẩm viết về các bài tường thuật lịch sử để khớp với khuynh hướng và sự lựa chọn của chúng sanh hiện đại. Tác phẩm mới này được gọi là “Cuộc đời Đức Phật” gồm ba cuốn và được dùng như là một cuốn sách tham khảo từ đó cho hiện nay. [2]

Thực vậy, những bài tường thuật liên quan đến Thần Túc Thông được kể lại trong tác phẩm được để cập đến ở trên là “Paṭhamasambodhikathā’ không phải do tác giả đáng kính bịa đặt một cách tuỳ tiện đâu. Chúng được trích và rút ra từ Kinh Pali. Tuy nhiên vấn đề là ngài đă không đề cập đến những nguồn tham khảo đó, v́ vào thời điểm đó không cần thiết phải làm như vậy. Những phần cơ bản của các bài tường thuật về Phép song thông (tức phép lạ (thần thông) một người có thể hiện diện ở hai nơi cùng một lúc) được mô tả ở trên rơ ràng đă được rút ra từ tập Chú Giải Pháp Cú Kinh (Dhammapada), tuy nhiên, các phép lạ (thần thông) c̣n lại th́ chưa chắc chắn được trích từ nguồn nào. Chỉ có điều chắc chắn là ngài không bịa ra những câu chuyện như vậy.

Yamakapaṭithāriya tức là Phép song thông có thể đọc thấy trong tác phẩm Vô Ngại Giải Đ ạo (Paṭisambhidāmagga) thuộcTiểu Bộ Kinh (Khuddakanikāya) (cuốn 31 trang 182-184) trích trong Kinh Pali. Chính v́ thế không nên nghi ngờ một cách ngây thơ là những phép lạ (thần thông) đó do các nhà Chú Giải biên soạn sau này. Nhưng cũng cần lưu ư là Kinh Pali chỉ khẳng định Đức Phật đă thực hiện phép lạ (thần thông) đó và bằng cách nào ngài đă thực hiện được như vậy. Không c̣n những bản tường tŕnh chi tiết nào khác tỷ dụ như việc Đức Phật đă biến một hạt soài ngay tức khác tăng trưởng thành một cây to lớn mang trái sum suê. Những bài tường thuật giống như bài giảng của Đức Phật cho mẹ ngài nơi cơi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatiṃsa) đă được các nhà Chú Giải biên soạn sau này. Có điều c̣n tuỳ vào phán đoán của các vị học giả để đưa ra phán quyết cho là những câu chuyện trên rất có thể đă không xảy ra hay không chắc có thực và rất có thể các câu chuyện đó được các vị Chú Giải thêm vào sau này. Nhưng chối bỏ cách dứt khoát sự thật này hay khả năng có thực đối với phép song thông do Đức Phật thực hiện có thể là một kết luận vội và nguy hiểm, một phán đoán hấp tấp và có thành kiến hoàn toàn không thích hợp đối với các Phật tử, chúng ta nên thận trọng trước tâm vẫn c̣n giới hạn của ḿnh và như vậy để khỏi rơi vào những thành kiến quá hẹp ḥi.

Một sự kiện khác nữa cũng được đề cập đến trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) (2/233) liên quan đến việc một vị tỳ khưu đă bay bổng lên trời., ngài c̣n muốn ngồi xếp bằng mà đi tới đi lui trên không giống như chim bay vậy. Người ta kể lại rằng h́nh như đây là một dấu hiệu cho thấy vị tỳ khưu cũng phải có được khả năng nh́n thấy những ǵ vô h́nh, có nghĩa ngài có Thiên Nhăn Thông (dibbacakkhu). Lư do là ngài gặp phải hai loại trở ngại trên đường, trở ngại đầu tiên là những cản trở rất tự nhiên như cây cối và rừng núi, trong khi đó lư do thứ hai là những cản trở được tạo ra do những thế lực vô h́nh nổi ḷng ghen tức, như là long vương (Nāga) và Thần Điểu (Garuda). Với khả năng nh́n suốt những điều vô h́nh (Thiên Nhăn Thông) ngài có thể khám phá ra những trở ngại đó đúng lúc và những khả năng nhập thiền Jhana rồi quyết tâm vô hiệu hoá những cản trở đó để không thể cản trở ngài trên bước đường tiến tới. Một lợi ích phụ nữa từ khả năng thiên nhăn thông đó khiến ngài dễ dàng đáp xuống, khiến cho ngài có khả năng t́m thấy nơi đáp xuống an toàn từ nời ngài ngồi trên không.

 


[1] Một Koti tương đương với mười triệu.

[2] Bản dịch tiếng Anh cũng được t́m thấy trong tiệm sách Mahamakut, Đường Phra Sumeru, Băng-cốc 10200.