NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 

                                                               Nguyên tác: Supra-Mundane, Psychic Powers
                                                
 Tác giả:       Phorn Ratanasuwan
                                               
  Dịch giả:     Tỳ khưu Thiện Minh

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mười Đáo Bỉ Ngạn (pāramī) hay mười pháp Ba la mật

 

Mười Đáo Bỉ Ngạn (pāramī) hay mười pháp Ba la mật gồm: Bố thí (Dāna),tŕ Trí giới (Sila), Xuất gia (Nekkhamma) Trí Tuệ (Paññā) Tinh Tiến (viriya), Nhẫn nại (khanti) chân thật (Sacca) quyết định (Adhiṭṭhāno), tâm từ (metta) và xả (Upekkhā). Thiếu một số lượng cần thiết và cường độ nhất định trong số mười điều trên, một thiền sinh không hy vọng có thể đạt đến thánh đạo và thánh quả. Liên quan đến xuất gia Ba la mật (Nekkhamma) hay là Lánh Tục. Cần lưu ư một điều là từ đó ám chỉ việc thực hiện cuộc sống vô gia cư, đạt được thiền Jhana và Thiền Chứng (samāpatti) ; gồm cả việc đạt đến những phép lạ (thần thông) hay là Thần thông (Abhiññā) trên b́nh diện hiệp thế. Để làm được điều này cần phải tích luỹ được nhiều công đức ở hàng trăm hàng ngàn kiếp trước. C̣n đối với Trí Tuệ Ba-la-mật (parami) Tuệ (Paññā) hay tuệ giác, ngoài ư nghĩa là kinh qua được những tài khéo và kiến thức khoa học ở các tiền kiếp, cũng c̣n ám chỉ việc học tập và nghiên cứu những lời dạy của Đức Phật trong quá khứ, với điều kiện là đạt đến được thánh đạo và thánh quả thuộc bậc A-la-hán nếu không bị chết trước khi đạt đến những thành tích đó. Đó chính là lư do tại sao trong cuộc đời cuối cùng này chỉ cần học tập ngắn ngủi và tóm lược cũng đủ để người đó đạt đến bậc A-la-hán. Đây chính là trường hợp một số người hay nhiều thiền sinh, cho dù họ rất thông thạo những lời dạy của Đức Phật liên quan đến đa văn và trí tuệ, nhưng không thể đạt đến bậc A-la-hán cách này cách khác. Cho dù họ có bận bịu cố tâm tập luyện trong cuộc sống này và vẫn không đạt đến kết quả ǵ. Tuy nhiên những điều đó không thể mất đi được. Những hậu quả do toàn bộ những tu luyện đó vẫn c̣n đó chờ cho đến ngày trưởng thành, khi thời gian chín mùi để cho mười Đáo Bỉ Ngạn (pāramī) đó được cân bằng và vững chắc trong việc tu luyện và phát triển. Đây chính là lư do tại sao các thiền sinh đă thực hiện được những hành vi công đức cùng lúc và cùng mục tiêu mà vẫn không thể đạt đến được những loại thành quả khác nhau.

Tóm lại, có sáu loại Thần thông (Abhinna) được Đức Phật mô tả như sau:

1. Thần Túc Thông (Iddhividhi): tức là thực hiện được những phép lạ (thần thông) và những việc phi thường.

2. Thiên Nhĩ Thông (Dibbasota)

3. Tha Tâm Thông hay là đọc được suy nghĩ của người khác (cetopariyañāṇa)

4. Nhớ Lại Tiền Kiếp (Pubbenivāsānussatiñāṇa)

5. Thiên Nhăn thông, hay là nh́n thấy các chúng sanh sinh và diệt.(cutūpapātañāṇa)

6. Tuệ giác nhờ đó toàn bộ những lậu hoặc hay những thụy miên phiền năo đều bị tận diệt đến tận gốc rễ. (Asavakkhaytañāña) - Lậu Tận Thông.

Về sáu điều đề cập đến ở trên, từ mục một đến mục năm được sắp vào loại vẫn c̣n thuộc góc độ hiệp thế, trong khi đó mục thứ sáu lại được coi như là siêu nhiên hay là siêu thế (Lokuttara). Lư do là v́ các thầy Rishi hay là các vị sa môn khổ hạnh trước thời Đức Phật cũng được biết đến là đă đạt đến thành quả thực hiện được một số phép Thần Thông (Abhiññā) thuộc năm mục kể trên, cho dù sự thật là họ vẫn chưa đạt Thánh Đạo và Thánh Quả thuộc bất kỳ loại nào. Thực vậy các “vị thánh” thuộc các tôn giáo khác với Phật giáo cũng đă thành công trong việc thực hiện được một số hay rất nhiều phép lạ (thần thông) như vậy. Điều chúng ta c̣n phải chấp nhận là ở vào thời điểm khi thế giới này vẫn chưa có được giáo lư của Đức Phật, th́ vẫn có khả năng cho một số thiền sinh có quyết tâm cao hay ư chí mạnh mẽ đạt được thành công trong năm Thần thông (Abhiññā) thuộc góc độ hiệp thế trên.

Điều đă được thảo luận kỹ cho đến giờ phút này chính là Phép Thần Thông (Abhiññā) Nhớ Lại Tiền Kiếp; Phép Thiên Nhăn, Phép tự phát ra thân xác cơi trời. Đề tài lúc này ta đang đă nghiêm cứu, nghĩa là Thần Túc Thông (Iddhividhi) tức khả năng thực hiện được một số phép lạ (thần thông) hay những việc phi thường (thần túc thông) (psychic feats). Tôi sẽ đề cập đến nhiều hơn trong tập tới đây viết về Thiên Nhĩ Thông (Dibbasita), tâm thông và tuệ giác nhờ đó có thể tận diệt được toàn bộ những lậu hoặc hay những thụy miên phiền năo. Như những ǵ đă được bàn đến. Lại c̣n có đề tài Phép hóa tâm thông (Phép ư sinh thân - Manomaya iddhi) tức là toát ra được thân xác cơi trời cũng được thêm vào để làm trọn con số sau đề mục. Chính v́ thế trong sáu đề mục Thần thông (Abhiññā) ta không thấy đề cập chi đến việc toát ra được thân xác cơi trời (astral body).

 

Tại sao Nhớ Lại Tiền Kiếp lại xuất hiện đầu tiên?

 

Lư do v́ sao tôi bắt đầu với loạt bài Nhớ Lại Tiền Kiếp. Chính là v́ tôi đă thu thập được một số dữ liệu đủ để bắt đầu với Phép Thần thông (Abhiññā) này đầu tiên. C̣n có một số công tŕnh khác thuộc loại này đă được biên soạn, hay trích dịch từ Giới luật và Kinh Phật, trong khi đó cho đến giờ vẫn chưa có được những sự kiện và dữ liệu đủ để xác định được pháp của Đức Phật. Điều này khẳng định những ǵ tôi đă thấy và biết được cho đến giờ. Chính vào năm Phật Lịch 2522 khi tôi có dịp hành hương đến các ngôi chùa Phật giáo tại Ấn độ cùng với Cô Sriphen và đă thu được một số dữ liệu. Thế nên tôi đă quyết định viết Tập sách Abhiññā này trước.(chi tiết về cuốn sách này đă được biên soạn trong tác phẩm về Ngôi nhà của các phép lạ (thần thông) này có tựa đề là “ĐẾN VÙNG ĐẤT PHẬT” (TO THE LAND OF THE BUDDHA) hiện đă được dịch sang tiếng Anh).

 

Các phép lạ (thần thông) được gọi là THẦN TÚC THÔNG (IDDHIVIDHI)

 

Các phép lạ (thần thông) thuộc loại Thần Túc Thông (Iddhividhi) đă đặt ra một vấn đề sống c̣n và phức tạp. Thường thường đa số các Nhà văn Phật giáo rất ngại đụng đến những vấn đề này, v́ cảm thấy đó là vấn đề hết sức tế nhị và như vậy sẽ tự đặt ḿnh vào những mạo hiểm không cần thiết, đó là sẽ bị công kích một cách mỉa mai. Cho dù sự kiện này chính họ cũng có khuynh hướng chấp nhận, ít nhất là một phần trong số những ǵ được để cập và mô tả trong các bản Kinh Phật. Lư do là v́ những điều được thực hiện trong đó nói theo kiểu khoa học đều không thể tin nổi. Chính v́ thế đa phần các trường hợp chúng được coi như chẳng là ǵ cả ngoài một loại h́nh văn phong được gọi là nhân cách hoá và như vậy được giải thích là đă trở thành lời Phật Pháp dạy, không liên quan đến riêng ai và hoàn toàn trừu tượng. Qua những lư lẽ mang tính trường phái và thiện ư đó, bất kỳ chân lư nào cũng đều có những mất mát đáng tiếc nếu đi đến kết luận một cách vội vă.

Một lư do khác nữa có thể là thiếu những lư do thực tế trong cuộc sống để nhằm chứng thực cho sự thật nơi các phép lạ (thần thông) như vậy. Do đó điều này giống như đưa ra những định lư h́nh học mà thiếu cách chứng minh sự thật đó để đi đến Q.E.D cuối cùng có thể thoả măn được các học giả và những nhà tư tưởng trí thức. Là người ta vẫn muốn có một tôn giáo khoa học hay một lời phán quyết của các nhà khoa học. Kết quả là có một số các Phật tử trí thức cứ muốn coi khía cạnh tín lư này như là điều ǵ đó đáng bỏ đi, là thứ rác rưởi, phê phán những tác giả cổ xưa như là những phương tiện để cạnh tranh với các tôn giáo khác và biến phật giáo sống sót sau cuộc khủng hoảng của thời đó.Thực tế có một số học giả tỏ ra thích điều họ tin như những ǵ trung đạo, cho là những bài tường thuật về các phép lạ (thần thông) ngay cả nếu như chúng đáng tin cậy hay có thực cũng không có liên quan ǵ đến giáo lư và những thực hành Đức Phật đă dạy, và tốt hơn là cứ để yên đừng đụng tới hay thảo luận đến làm ǵ. Các đề mục đó không liên quan ǵ đến việc tập luyện diệt dục hay khử trừ các phiền năo cả, chính v́ thế mà họ đồng ư và điều có ư nghĩa hơn là Đức Phật cảnh giác chúng ta trong kinh Kalama, đừng có tin vào những bản văn hay kinh sách và cho dù thực tế là họ vẫn trích Kinh Phật. Chẳng là ǵ hơn là Kinh Phật được ghi chép lại mà họ lại cấm những người khác không được trích dẫn sao.

C̣n đối với tôi, đây chính là một niềm tin từ lâu tôi thường ấp ủ là từ một góc độ tổng thể. Các bài tường thuật về các phép lạ (thần thông) đó cơ bản phản ánh những câu chuyện có thật. Điều cần được kỳ vọng ở đây chính là những con số nói trong đó không được coi như là những giá trị số học có giá trị trên danh nghĩa mà thôi, ta có thể nói như vậy. Thí dụ như câu. “Có năm trăm kẻ cướp” phải được hiểu theo kiểu nghĩa thành ngữ, không hàm chứa con số chính xác là năm trăm người, như con số đă đưa ra. Điều này cũng được áp dụng trong các giá trị đo đạc khác như thể tích, sức nặng, chiều cao và khoảng cách, kể cả một số chi tiết nhỏ thuộc loại không gian mà nếu hiểu theo giá trị bề ngoài th́ có thể biến thành sự phóng đại kỳ cục.

 

Sri Satya Sai Baba

 

Một yếu tố phụ khác nữa cũng động viên tôi đặt niềm tin mạnh mẽ vào khía cạnh này đó là nói một cách ṣng phẳng, cuộc viếng thăm chúng tôi thực hiện tới vùng di tích Sri Satya Sai Baba, một số người gọi là kẻ thực hiện phép lạ (thần thông) đương thời. Khi nh́n kỹ và nghiên cứu cẩn thận với con mắt của những người t́m lỗi, nhóm chúng tôi phải đi đến kết luận là thực hiện các phép lạ (thần thông) đó ngài làm bằng nhiều cách khác nhau và nhiều nơi có thể tin được. Không thể được coi đó như là tṛ mánh khoé của nhà ảo thuật có hạng hay là thuật thôi miên tập thể. Điều này dẫn tôi tới một kết luận tiếp theo: v́ chúng ta coi thành tựu của Trưởng Lăo Koṇḍaññā sau bài giảng đầu tiên như là một nhân chứng cụ thể của việc Đức Phật đạt đến giác ngộ, th́ cũng phải tiếp theo là chúng ta có thể coi Sri Satya Sai Baba như là chứng cứ cụ thể của các khả năng của Đức Phật có thể thực hiện được những phép lạ (thần thông) như đă được ghi lại trong Kinh Phật. Con người “phép lạ (thần thông)” này như ngài thường được gọi như vậy, chính là một ví dụ điển h́nh trong cuộc sống về khả năng đó. Và như vậy cũng là sự thật của các lời dạy của Đức Phật có liên quan đến Thần Túc Thông (Iddhividhi) hay là các điều phi tường (Psychic feats) những ǵ ngài Sai Baba đă thực hiện được, chẳng là ǵ khác hơn là thể hiện các pháp của luật nhân quả trên b́nh diện siêu nhiên, đang điều hành cái gọi là luật về phía đối tác vật chất. Điều này dùng để khẳng định một trong những lời nói nổi tiếng của Đức Phật như được ghi lại trong câu mở đầu của Pháp Cú Kinh (Dhammapada): ” Tâm là nguồn mạch và cội nguồn mọi pháp. Tâm vượt hơn hẳn. Mọi pháp phát xuất từ tâm mà ra.” Tuy nhiên, các phép lạ (thần thông) do Sri Satya Sai Baba thực hiện như chúng ta đă thấy và biết được có thể vẫn không thể so sánh với những ǵ của Đức Phật đă làm được. Tuy nhiên,với khả năng là một nhân vật quốc tế c̣n vượt xa hơn nhiều. Những điều ngài thực hiện trải dài qua mọi thời đại cũng đáng được t́m hiểu vô tư và nghiên cứu nghiêm túc về phía các nhà hoài nghi đích thực.

Trong tác phẩm này không những chỉ có những ghi nhận hay những tường thuật về điều ǵ được nói đến trong nhiều văn bản đa dạng và một số phần trong Kinh Pali. Không có bất kỳ b́nh luận nào của tôi, mà vẫn c̣n cần phải có nhiều không gian cần thiết để nghiên cứu sâu rộng hơn. Điều này sẽ được thực hiện sau này. Rất có thể trong cuốn tiếp theo sau cuốn này. Trong đó phép lạ (thần thông) Thiên Nhĩ Thông (Dibbasita) và biết tâm người khác (tha tâm thông - Cetopariyanana) sẽ được đề cập đến và phần cuối cùng tức là Asavakkhayañāṇa. tức tuệ giác nhờ đó có thể tận diệt được hết tất cả những lậu hoặc hay lậu tận thông. Cho dù có nhiều t́nh thế và phức tạp đến nhường nào để được bàn đến trong cuốn tiếp theo sau cuốn Thiên Nhĩ Thông (Dibbasota) và biết tâm người khác hay là Tha Tâm Thông (Cetopariyañāṇa)